vanban.org

Quyết định 14/2022/QĐ-XLHC

TAND huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 01/11/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đình T tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc; địa chỉ thôn G, xã K, huyện T, tỉnh V.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, người bị đề nghị có quyền khiếu nại; Cơ quan đề nghị có quyền… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "NGuyễn Đình Tân"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đình T tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc; địa chỉ thôn G, xã K, huyện T, tỉnh V.
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy; Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN S
TỈNH V

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 14/2022/QĐ-XLHCSông Lô, ngày 01 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN S –TỈNH V

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Ngô Thị Minh Hiệp

2. Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Bà Lê Thị Huyền.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện S tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Thanh Hường- Kiểm sát viên.

2. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Vũ Văn Tuấn – Phó trưởng phòng Lao động thương binh và xã hội huyện S.

Ngày 01 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh V tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 14/2022/QĐ-TA ngày 18 tháng 10 năm 2022 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Đình T, sinh ngày 29/4/1974; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 11/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện S, tỉnh V; tiền án; tiền sự: không; con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1944 và bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1948;

Có mặt tại phiên họp.

NHẬN THẤY:

Căn cứ vào kết quả xét nghiệm ngày 15/9/2022 của trạm y tế xã Đ thì Nguyễn Đình T dương tính với chất ma túy. Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Đ, Công an xã Đ lập hồ sơ và có văn bản đề nghị áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Đình T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Theo đề nghị số 283/LĐTBXH ngày 16/10/2022 của Phòng Lao động –

1

Thương binh và Xã hội huyện S, tỉnh V đề nghị Tòa án nhân dân huyện S xem xét, ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc đối với Nguyễn Đình T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh V.

Tại phiên họp, Đại diện phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện S đề nghị Tòa án nhân dân huyện S quyết định đưa Nguyễn Đình T vào cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh V; địa chỉ thôn G, xã K, huyện T, tỉnh V để cai nghiện bắt buộc trong thời gian từ 18 tháng đến 20 tháng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện S phát biểu quan điểm: Về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đình T là đúng trình tự, thủ tục. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký thực hiện trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Căn cứ vào khoản 2 Điều 9, Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 49 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính, đề nghị Tòa án nhân dân huyện S áp dụng biện pháp đưa vào cơ cở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đình T tại Cơ sở cai nghiện ma túy công lập tỉnh V với thời hạn từ 18 đến 20 tháng.

Nguyễn Đình T trình bày: Bản thân nghiện ma túy từ năm 2021. Ngày 15/9/2022, T đề nghị xét nghiệm ma túy và kết quả dương tính mới ma túy. Ngày 19/9/2022, Công an xã Đ yêu cầu T trong thời hạn 05 ngày phải đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đến Trung tâm y tế huyện L đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuộc phiện thay thế, nhưng T không đi đăng ký. Tại phiên họp đối tượng T cũng thừa nhận kết quả test ngày 12/9/2022 cũng như chữ viết trong bản tường trình là của đối tượng. Hiện tại, đối tượng T trình bày mỗi ngày sử dụng một đến hai lần bằng hình thức hút và thừa nhận có chích 02 lần, có ngày không sử dụng nên đối tượng xin được ở nhà và đề nghị được test lại kết quả xét nghiệm nếu dương tính thì đối tượng đồng ý chấp hành đi cai nghiện.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên họp; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của người bị đề nghị, Đại diện cơ quan đề nghị, Kiểm sát viên.

XÉT THẤY:

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đình T được lập đúng trình tự, thủ tục, thời hạn, thời hiệu, thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Căn cứ các tài liệu đã thu thập có trong hồ sơ, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Đình T là người nghiện ma túy, thuộc đối tượng không đăng ký cai nghiện

2

ma túy tự nguyện theo Khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy. Vì vậy, việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc đối với Nguyễn Đình T là cần thiết và đúng pháp luật.

Xét thấy, Nguyễn Đình T là người nghiện ma túy, đã trên 18 tuổi, có đủ năng lực hành vi nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện, lao động, học tập. Việc sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Đình T là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm, xâm hại đến quản lý Nhà nước về ma túy, xâm hại đến trật tự an toàn xa hội. Nếu tiếp tục để Nguyễn Đình T ngoài xã hội sẽ càng lấn sâu vào sử dụng ma túy, đó chính là cơ sở để phát sinh các tệ nạn xã hội và bệnh tật. Việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa Nguyễn Đình T vào cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh V là phù hợp với quy định của pháp luật và tạo điều kiện cho Nguyễn Đình T có cơ hội học tập, lao động để trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

Khi quyết định thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính, Tòa án có xem xét, áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi theo quy định tại Khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội và Kiểm sát viên đề nghị Tòa án nhân dân huyện S quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đình T là hoàn toàn có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Căn cứ vào ý kiến của Đại diện phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Soogn Lô; căn cứ vào ý kiến của Kiểm sát viên; ý kiến của người bị đề nghị;

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 9, Điều 95, 105 và Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Khoản 4, 49, 56, 57, 58 và 59 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2020;

Căn cứ vào các Điều 27, 28, 32 Luật Phòng chống ma túy;

Căn cứ vào Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội “Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ vào Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

3

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Đình T tại cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Vĩnh Phúc; địa chỉ thôn G, xã K, huyện T, tỉnh V.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày công bố Quyết định, người bị đề nghị có quyền khiếu nại; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện S có quyền kháng nghị Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Tòa án nhân dân huyện S.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận được Quyết định này, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện S phối hợp với Công an huyện S đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Cỡ chữ