vanban.org

Quyết định 14/2022/QĐ-TA

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 18/08/2022 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với:

Họ và tên: T; Giới tính: Nam; sinh năm 1965; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố TH, phường ĐB, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "quyết định áp dụng xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với:
  • Căn cứ chính? Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 14/2022/QĐ-TAThái Nguyên, ngày 18 tháng 5 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

-Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Bà Dương Thị Liên

-Thư ký phiên họp: Ông Lê Minh Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

Ngày 18 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số14/QĐ-TA ngày 11tháng 5 năm 2022 đối với:

Họ và tên: T; Giới tính: Nam; sinhnăm 1965; Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố TH, phường ĐB, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt nam; Tôn giáo: không;Trình độ văn hóa:7/10; Nghề nghiệp: Không; Tiềnán: 3; Tiền sự: Không;Con ông Tr (đã chết) và con bà S (đã chết).

Vợ: H, sinh năm 1971; Nơi cư trú:Tổ dân phố TH, phường ĐB, thành phố Thái Nguyên,

Con: Có 3 con.

(Có mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà H1 – Chức vụ: Phó trưởng phòng, Phòng lao động Thương binh và Xã hội TP TN.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên: Ông Vũ Xuân Đại – kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Qua các tài liệu trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T tổ dân phố TH, phường ĐB, thành phố TN, thể hiện:

T là đối tượng nghiện ma túy, Tại quyết định số 446/QĐ- UBND ngày 18/12/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường ĐB quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với T thời hạn 06 tháng.

Ngày 21/4/2022 Công an phường ĐB, thành phốTN tiến hành xét nghiệm kiểm tra chất ma túy đối với T, kết quả xét nghiệm dương tích với ma túy, loại Heroine.

Tại bản tường trình T khai nhận: Bản thân T nghiện ma túy từ năm 1999 đã có quyết định cai nghiện tại gia đìnhnhưng đến nay chưa cai bỏ được ma túy,loại ma túy T sử dụng là heroine, hình thức sử dụng ma túy là hít, 1 ngày sử dụng ma túy một lần, lần gần nhất sử dụng là ngày 21/4/2022. Công an phường ĐB, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với T. Tại phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của trạm y tế phường ĐB, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên ngày 21/4/2022 xác định T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Heroine.

Công an phường ĐB, thành phố TN tiến hành lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T theo đúng quy định.

Tại công văn số 110/LĐTB&XH ngày 04 tháng 5 năm 2022 Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố TN đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên.

Tại phiên họp: Đại diện phòng Lao động thương binh và Xã hội thành phố TN trình bày hồ sơ vàgiữ nguyên quan điểm đã đề nghị đối với T.

Tại phiên họp, người bị đề nghị T có ý kiến: Bản thân nghiện ma túy từ năm1999 T đã có quyết đinh của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường ĐB cho cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đinh, trong thời gian cai nghiện tại gia đình, cộng đồng T chưa cai bỏ được ma túy mà vân tiếp tục sử dụng, loại ma túy T sử dụng là heroine, hình thức sử dụng ma túy là hít, 1 ngày sử dụng ma túy một lần. Lần gần nhất sử dụng là ngày 21/4/2022. Công an phường ĐB, thành phố TN tỉnh Thái Nguyên đã lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với T

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên phát biếu Thẩm phán giải quyết đã tuân thủ theo đúng các quy định của Pháp lệnh quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 2 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Nghị định 116 ngày 21/12/2021 quy định chi tiết 1 số điều của luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy giải quyết theo hướng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T thời hạn từ 18 đến 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên.

Sau khi xem xét ý kiến của Cơ quan đề nghị, người bị đề nghị, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp.

XÉT THẤY

Qua xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T thấy rằng:

Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012, Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

Về thời hiệu: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Phòng LĐTBXH thành phố TN đối với T được lập trong thời hiệu quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021quy định chi tiết 1 số điều của luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Khoản 2 Điều 32 Luật phòng chống ma túy.

Tại phiên họp T thừa nhận: Bản thân nghiện ma túy từ năm 1999 T đã có quyết đinh của Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường ĐB cho cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đinh, trong thời gian cai nghiện tại gia đình, cộng đồng Trường chưa cai bỏ được ma túy mà vân tiếp tục sử dụng, loại ma túy T sử dụng là heroine, hình thức sử dụng ma túy là hít, 1 ngày sử dụng ma túy một lần. Lần gần nhất sử dụng là ngày 21/4/2022 thì bị Công an Phường ĐB lập biên bản vi phạm.

Lời khai nhận của T phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ. Do đó, Phòng Lao động Thương binh và Xã hội thành phố TN đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T là có căn cứ, đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Luật phòng chống ma túy, điểm c khoản 3 Điều 33 nghị định 116 ngày 21/12/2021,khoản 1 Điều 96 và khoản 2 Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng: T đã có tiền án về tội trộm cắp và tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Trong quá trình lập hồ sơ T có thái độ chấp hành tốt tự nguyện khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Người bị đề nghị không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 95, 96 Luật xử lý vi phạm hành chính;khoản 2 Điều 32, Luật phòng chống ma túy; điểm c khoản 1 Điều 33 Nghị định 116 ngày 21/12/2021 quy định chi tiết 1 số điều của luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với:

Họ và tên: T; Giới tính: Nam; sinh năm 1965;

Nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố TH, phường ĐB, thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên.

2.Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa vào Cơ sơ sở cai nghiện bắt buộc.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.

4.Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố TN chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố TN, tỉnh Thái Nguyên đưa người đi thi hành Quyết định; Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ