- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "bà H yêu cầu tuyên bố MNL với bà M"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Ngô Thị H.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 14/2021/QĐST-DS | B, ngày 26 tháng 3 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B – TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoàng Phương
Thư ký phiên họp: ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Hoàng Thế Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 56/2021/TLST-VDS ngày 15 tháng 01 năm 2021, theo quyết định mở phiên họp số 229/2021/QĐST-DS ngày 16 tháng 3 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Ngô Thị H, sinh năm 1958,
Địa chỉ: Số 39/86, khu phố 7, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Ngô Đức T, sinh năm: 1976
Địa chỉ: 45/86, khu phố 7, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
2/ Ông Ngô Văn T, sinh năm 1972
Địa chỉ: 10/43, khu phố 7, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
3/ Ông Ngô Văn S, sinh năm: 1969
Địa chỉ: 63C/59, khu phố 8, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bà H, ông T, ông T và ông S có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Ngày 21/10/2020, bà Ngô Thị H nộp đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự về việc yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố B tuyên bố bà Ngô Thị M, sinh năm 1960; nơi cư trú: Số nhà 45/86, khu phố 7, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, là em ruột của bà là người mất năng lực hành vi dân sự.
Lý do, bà M bị bệnh tâm thần từ nhỏ, không tự chăm sóc bản thân được. Theo phiếu khám sức khỏe tâm thần của số 789/PKSKTT-VPYTW do Viện Pháp y Tâm thần Trung ương B cấp ngày 07/12/2020 kết luận bà M “Chậm phát triển tâm thần mức độ trầm trọng”. Cha mẹ bà đều đã chết, do đó các anh chị em của bà muốn thực hiện thủ tục cử người giám hộ để thực hiện phân chia và khai nhận di sản do cha mẹ để lại.
Lý do yêu cầu: Để thực hiện thủ tục cử người giám hộ và thực hiện thủ tục phân chia, khai nhận di sản do cha mẹ để lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát nhân dân tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Xét thấy, bà Ngô Thị H và bà Ngô Thị M là hai chị em ruột, cùng là con ruột của ông Ngô Văn T, sinh năm 1935 (đã chết ngày 21/9/2003) và bà Cao Thị H, sinh năm 1937 (đã chết ngày 21/12/2015). Ngoài ra, ông T và bà H còn có các người con là ông Ngô Đức T, sinh năm: 1976, ông Ngô Văn T, sinh năm 1972 và ông Ngô Văn S, sinh năm: 1969.
Do vậy, xác định các ông T, ông T và ông S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ việc. Các ông T, ông T và ông S đều có ý kiến đồng ý để cho bà H là người đứng đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Ngô Thị M là người mất năng lực hành vi dân sự, nên bà H có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 376 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 28/01/2021, bà H, ông T, ông T và ông S có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Bà Ngô Thị M, sinh năm 1960; hiện đang cư trú tại: Số nhà 45/86, khu phố 7, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, việc dân sự trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B.
Về nội dung yêu cầu:
Theo nội dung đơn yêu cầu, bà Ngô Thị H trình bày: Bà Ngô Thị M bị bệnh tâm thần từ nhỏ, không tự chăm sóc bản thân được. Theo phiếu khám sức khỏe tâm thần số 789/PKSKTT-VPYTW do Viện Pháp y Tâm thần Trung ương B cấp ngày 07/12/2020 kết luận bà M “Chậm phát triển tâm thần mức độ trầm trọng”.
Ngày 28/01/2021, bà H có đơn yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố B ban hành Quyết định trưng cầu giám định pháp y tâm thần đối với bà Ngô Thị M theo quy định tại Điều 377 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 196/KL-VPYTW ngày 16/3/2021 của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương B, đã kết luận:
- Về Y học: + Hiện nay: Đương sự bị bệnh Chậm phát triển tâm thần mức độ trầm trọng (F73 -ICD.10).
- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: + Hiện nay: Đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Như vậy, đã có đủ cơ sở xác định bà Ngô Thị M, sinh năm 1960; hiện đang cư trú tại: Số nhà 45/86, khu phố 7, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là người mất năng lực hành vi dân sự.
Căn cứ Điều 22, 53, 54 của Bộ luật Dân sự năm 2015, yêu cầu của bà Ngô Thị H là có cơ sở nên chấp nhận.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B: Việc dân sự giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Ngô Thị H đối với bà Ngô Thị M từ khi thụ lý đến phiên họp đều đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nghiên cứu đúng thời gian quy định.
Về nội dung yêu cầu: Theo Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 196/KL-VPYTW ngày 16/3/2021 của Viện Pháp y Tâm thần Trung ương B, đã có đủ cơ sở xác định bà Ngô Thị M, sinh năm 1960; hiện đang cư trú tại: Số nhà 45/86, khu phố 7, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là người mất năng lực hành vi dân sự. Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 361, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 377, Điều 378 và khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 22, Điều 53 và Điều 54 của Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị Tòa án chấp nhận đơn yêu cầu của bà H.
Xét thấy, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố B phát biểu tại phiên họp phù hợp với nhận định nêu trên, nên chấp nhận.
Về lệ phí: Thuộc trường hợp được miễn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 361, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 376, Điều 377, Điều 378 và khoản 2 Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 22, Điều 53 và Điều 54 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự của bà Ngô Thị H.
2. Tuyên bố bà Ngô Thị M, sinh năm 1960; cư trú tại: Số nhà 45/86, khu phố 7, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai là người mất năng lực hành vi dân sự.
3. Về lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Thuộc trường hợp được miễn theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
4. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND TP. B; - Chi cục THADS TP. B; - Người yêu cầu; Đương sự; - Lưu VT, Hồ sơ việc dân sự | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Hoàng Phương |