- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng đặt cọc — án dân sự — "Vụ ông Nguyễn Đức T - Nguyễn Quốc S"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức T.
- Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đình chỉ giải; Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 14 /2022/QĐPT-DS | Bà Rịa - Vũng Tàu, ngày 25 tháng 8 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO
ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp:
Bà Lý Thị Lệ Thủy
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Quang
Bà Nguyễn Thị Ly
- Thư ký phiên tòa: Bà Vương Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Thủy - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 54/2022/QĐST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Vũng Tàu đã căn cứ vào các Điều 217, Điều 218, Điều 219, Điều 235, khoản 2 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự và điểm d, khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm về việc “Tranh chấp đòi tài sản”, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Đức T, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số 1375A, tổ 22, ấp V, phường Phước T, thành phố H, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Quốc S, sinh năm 1963; Địa chỉ: Số 17, Nguyễn T, Phường II, thành phố T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị Hồng Th, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số 17, Nguyễn T, Phường II, thành phố T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Người đại diện theo ủy quyền của ông S, bà Th:
+ Ông Phan Đức L, sinh năm 1977;
+ Ông Trần Thanh B, sinh năm 1994;
Địa chỉ liên hệ: Số 107, đường Nguyễn Văn T, Phường 17, quận X, thành phố Hồ Chí Minh.
Lý do đình chỉ của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu: Nguyên đơn ông Nguyễn Đức T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Đồng thời tại phiên tòa, bị đơn rút toàn bộ yêu cầu phản tố, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập; Hội đồng xét xử căn cứ theo điểm c, khoản 1 và điểm a, khoản 2 Điều 217 của Bộ luật tố tụng dân sự ra Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thụ lý số 392/2020/TLST-DS ngày 06/10/2020 về việc “Tranh chấp đòi tài sản”.
Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án: Sung công quỹ nhà nước số tiền 21.000.000 đồng (Hai mươi mốt triệu đồng) do ông Nguyễn Đức T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0002694 ngày 06/10/2020.
Ngày 12/5/2022, nguyên đơn ông Nguyễn Đức T kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 54/2022/QĐST-DS ngày 28 tháng 4 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố T để chuyển hồ sơ về cho Tòa án nhân dân thành phố T tiếp tục giải quyết vụ án.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tại phiên họp:
Về tố tụng: Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý, trong quá trình tố tụng, Thẩm phán và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Phiên họp xét kháng cáo Quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án được thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: căn cứ vào điểm c, khoản 5, Điều 314 BLTTDS năm 2015 chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức T; hủy Quyết định đình chỉ số 54/2022/QĐST-DS ngày 28/04/2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân thành phố T tiếp tục giải quyết vụ án.
XÉT THẤY:
. Nguyên đơn ông Nguyễn Đức T khởi kiện “Tranh chấp đòi tài sản” yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giải quyết, buộc bị đơn ông Nguyễn Quốc S trả lại số tiền đã nhận cọc thông qua chuyển khoản với số tiền là 1.000.000.000 đồng. Bị đơn ông S có yêu cầu phản tố buộc ông Nguyễn Đức T phải công khai xin lỗi, gỡ bỏ những thông tin bịa đặt, sai sự thật trên trang mạng công cộng, bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật, thiệt hại tạm tính là 42.000.000 đồng.
. Trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông T tham gia đầy đủ các phiên họp kiểm tra giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và các phiên hòa giải. Phiên tòa xét xử sơ thẩm lần thứ nhất được Tòa án quyết định mở vào lúc 14 giờ 00 phút ngày 15/4/2022; ông T có mặt và nộp đơn đề nghị Tòa án hoãn phiên tòa để triệu tập bốn người làm chứng nhằm xác minh, làm rõ nguồn gốc, hiện trạng con đường nằm trên 05 thửa đất đang tranh chấp trong vụ án tranh chấp hợp đồng đặt cọc. Tòa án đã lập biên bản giao nhận đơn của ông T vào lúc 14 giờ 20 phút ngày 15/4/2022 (Bút lục 177). Hội đồng xét xử sơ thẩm ban hành Quyết định số 12/2022/QDST-HPT ngày 15/4/2022 hoãn phiên tòa với lý do “nguyên đơn ông Nguyễn Đức T có đơn xin hoãn phiên tòa”, do không có biên bản phiên tòa nên không thể hiện việc có mặt, vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn, người đại diện của đương sự trong vụ án tại phiên tòa lần thứ nhất. Như vậy, tại phiên tòa lần thứ nhất ông T có đơn xin hoãn phiên tòa và được Hội đồng xét xử chấp nhận ban hành quyết định hoãn phiên tòa là phù hợp quy định của pháp luật. Vì vậy, lý do hoãn phiên tòa lần thứ nhất không phải do sự vắng mặt không có lý do của nguyên đơn.
Tại Quyết định hoãn phiên tòa đã ấn định mở lại phiên tòa lần hai vào lúc 08 giờ ngày 28/4/2022. Tuy nhiên, trước ngày 28/4/2022, ông T do gia đình bị nhiễm Covid-19 (theo nội dung đơn kháng cáo) không tham gia phiên tòa được, ông T nhắn tin qua zalo cho Thư ký xin hoãn phiên tòa, có nội dung:“chị ơi gia đình em có cv cho em xin hoãn phiên tòa ngày 28/4/2022 nha chị cảm ơn chị nhiều”. Thư ký nhắn lại: “Anh làm đơn đi. Chụp gửi zalo cho em trước rồi hôm sau gửi bản giấy xuống” thể hiện ý chí ông Th vẫn mong muốn tham gia phiên tòa nhưng vì có lý do không thể tham gia, ông đã làm đơn xin hoãn phiên tòa lần hai theo hướng dẫn của Thư ký, đơn xin hoãn được Thư ký lưu hồ sơ vụ án (bút lục số 190). Tại cấp phúc thẩm, ông T nộp đơn có xác nhận của Tổ trưởng dân cư số 22, Trưởng khu phố và Trạm Y tế phường PT, thành phố H, tỉnh Đồng Nai đã xác định ông Nguyễn Đức T có nhiễm Covid-19 từ khoảng thời gian 25/4/2022 đến 30/4/2022.
Như vậy, ông T kháng cáo và chứng minh được việc ông vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ hai do bị nhiễm Covid-19 là trở ngại khách quan; Thư ký Tòa án đã tiếp nhận thông tin nhưng Hội đồng xét xử ban hành Quyết định đình chỉ số 54/2022/QĐST-ĐC đình chỉ vụ án là chưa phù hợp, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Vì vậy, chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Đức T và chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tại phiên họp, hủy quyết định đình chỉ sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án.
Do được chấp nhận kháng cáo nên ông Nguyễn Đức T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Căn cứ Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Đức T.
Hủy Quyết định đình chỉ 54/2022/QĐST-DS ngày 28/4/2022 của Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để chuyển hồ sơ về cho Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tiếp tục giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
2. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Nguyễn Đức T không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Đức T 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0002506 ngày 27/5/2022 của Chi cục Thi hành án thành phố Vũng Tàu.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tỉnh BR-VT; - TAND thành phố T; - VKSND thành phố T; - Chi cục THADS thành phố T; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (đã ký) Lý Thị Lệ Thủy |