- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Vũ Thị Hoa xin ly hôn anh Vũ Thế H"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Nguyên đơn chị Vũ Thị H và bị đơn anh Vũ Thế H.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN ND HUYỆN VĨNH LỘC TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 14/2020/QĐST-HNGĐ | Vĩnh Lộc, ngày 17 tháng 3 năm 2020. |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 15/2020/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2020, giữa:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thị H – Sinh năm: 1989.
Nơi ĐKHKTT: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh T.
Nơi ở hiện nay: Thôn M, xã L, huyện V, tỉnh T.
Bị đơn: Anh Vũ Thế H – Sinh năm: 1980.
Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã L, huyện V, tỉnh T.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 51, 55, 57, 58, 59, 68, 69, 70, 71, 72, 81, 82, 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 09 tháng 3 năm 2020.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 09 tháng 3 năm 2020 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Nguyên đơn chị Vũ Thị H và bị đơn anh Vũ Thế H.
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về hôn nhân: Chị Vũ Thị H và anh Vũ Thế H đều có ý kiến chung và cùng thống nhất: Vợ chồng thỏa thuận, thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Chị Vũ Thị H và anh Vũ Thế H đều thống nhất vợ chồng có 01 con chung tên là Vũ Thế H – sinh ngày 24/01/2011 ( giới tính: Nam). Hiện nay cháu đang ở cùng anh Hùng, phát triển bình thường về thể lực và trí lực, không ốm đau bệnh tật gì.
Chị Vũ Thị H và anh Vũ Thế H thống nhất, thỏa thuận và theo nguyện vọng của cháu Vũ Thế H là: Giao con chung Vũ Thế H cho anh Vũ Thế H trực tiếp nuôi dưỡng, chị Vũ Thị H chưa phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H. Anh H có quyền làm đơn yêu cầu chị H phải có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung bằng một vụ án khác.
Chị Vũ Thị H có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được phép ngăn cản chị thực hiện quyền này và chị có quyền làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung: Chị Vũ Thị H và anh Vũ Thế H đều có ý kiến chung và cùng thống nhất: Vợ chồng có một số tài sản chung nhưng hai người thống nhất tự thỏa thuận phân chia nên chưa yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
- Về công nợ: Chị Vũ Thị H và anh Vũ Thế H đều có ý kiến chung và cùng thống nhất: Vợ chồng không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Vũ Thị H và anh Vũ Thế H đều thống nhất, thỏa thuận: Chị Vũ Thị H chịu toàn bộ tiền án phí DS – HNGĐ sơ thẩm là 150.000 đồng nhưng hiện tại chị H đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc, theo biên lai thu tiền số AA/ 2018/0004618, ngày 20 tháng 02 năm 2020. Vì vậy, chị Vũ Thị H được nhận lại 150.000 đồng tiền đã nộp tạm ứng án phí tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.
Anh Vũ Thế H không phải nộp tiền án phí DS – HNGĐ sơ thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Viện kiểm sát ND huyện Vĩnh Lộc; - Chi cục THA DS huyện Vĩnh Lộc; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - UBND xã L; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Lê Thị Hƣơng Giang |