vanban.org

Quyết định 14/2019/QĐ-PT

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 20/06/2019 Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/06/2019 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của ngườ i khở i kiệ n là bà Lương Ngọc T.

Hủy quyết định đình chỉ số 05/2018/QĐST - HC ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất”. Chuyể n hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa để tiếp tục giải quyết vụ án. Về án phí: Hoàn trả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lương Ngọc T - Ủy ban nhân dân TP.B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của ngườ i khở i kiệ n là bà Lương Ngọc T.
  • Căn cứ chính? Luật tố tụng hành chính và Nghị; Điều 123 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 14/2019/QĐ-PTĐồng Nai, ngày 20 tháng 6 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Trần Phương Đông

Các Thẩm phán:

Bà Phạm Thị Xuân Đào

Ông Vũ Thế Phương

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên họp:

Bà Nguyễn Thị Bình - Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 05/2018/QĐST-HC ngày 16 tháng 11 năm 2018.

Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 123, điểm h khoản 1 Điều 143, Điều 144 và Điều 145 của Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất” giữa:

Người khởi kiện: Bà Lương Ngọc T, sinh năm 1945;

Địa chỉ: K1/29, ấp T, phường B, TP.B, Đồng Nai.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lý Thị Ngọc H, sinh năm 1979 (Theo văn bản ủy quyền ngày 08/10/2016).

Địa chỉ: 240, đường 30/4, phường T, TP.B, Đồng Nai.

Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thành phố B.

Đạ i diệ n theo phá p luậ t: Ông Phạ m Anh D – Chủ tịch

Địa chỉ: 90, Hưng Đạo Vương, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 1976;

2. Ông Ngô Đăng Trường H, sinh năm 1972;

Cùng địa chỉ: 59, đường D2, Quốc lộ 51, Khu phố B, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

3. Ông Ngô Văn D, sinh năm 1941 (chết ngày 28/11/2015);

Người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông D:

1. Bà Ngô Mộng Phương Loan, sinh năm 1973;

Địa chỉ: C17B, Khu phố 5, phường Bửu L, TP.B, Đồng Nai.

2. Ông Ngô Đăng Trường V, sinh năm 1972;

Địa chỉ: K1/29, ấp T, phường B, TP.Biên Hòa, Đồng Nai.

3. Ông Ngô Thành Quốc Bảo, sinh năm 1964;

Địa chỉ: K1/29, ấp T, phường B, TP.B, Đồng Nai.

4. Bà Ngô Mộng Phương T, sinh năm 1966;

Địa chỉ: 314/40, tổ 4, Khu phố 2, Phườ ng T, TP.B, Đồng Nai.

Tại đơn kháng cáo ngày 26 tháng 11 năm 2018, ngườ i khờ i kiệ n là bà Lương Ngọ c T kháng cáo với lý do Quyết định đình chỉ của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đình chỉ vụ án không có căn cứ pháp luật, gây khó khăn cho người dân trong việc khiếu kiện quyết định hành chính trái pháp luật, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét hủy bỏ Quyết định số 05/2018/QĐST - HC ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

XÉT THẤY:

- Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của ngườ i khở i kiệ n là bà Lương Ngọc T làm trong thờ i hạn luật định, đã đóng tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét theo thủ tục chung.

- Về nội dung kháng cáo:

Tòa án cấp sơ thẩm đã thu thập được những người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Văn D gồm ông Nguyễn Thành Quốc B, Ngô Mộng Phương T, Ngô Mộng Phương L, bà Ngô Mộng Phương K, Ngô Đăng Trường V, Ngô Đăng Trường D, Ngô Đăng Trường H, Ngô Đăng Trường M tham gia tố tụng là cần thiết cho việc giải quyết vụ án và đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp cho các đương sự.

Tuy nhiên , việ c Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa ban hành Thông báo số 134/2018/TB-TA ngày 08/10/2018, yêu cầu ngườ i đạ i diệ n theo ủ y quyề n của người khởi kiện là bà Lý Thị Ngọc H phải cung cấp địa chỉ của những người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Văn Dậu gồm bà Ngô Mộng Phương K, sinh năm 1967, ông Ngô Đăng Trường D, sinh năm 1968, ông Ngô Đăng Trường M, sinh năm 1978 trong thời hạn 15 (mườ i lăm) ngày kể từ ngày nhận được thông báo trên và khi hết thời hạn ngườ i đạ i diệ n theo ủ y quyề n củ a ngườ i khở i kiệ n là bà Lý Thị Ngọc H không cung cấp đượ c địa chỉ của những người nêu trên theo yêu cầu nên Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa đình chỉ giải quyết vụ án căn cứ vào khoản 5 Điều 38, điểm c khoản 1 Điều 123, điểm h khoản 1 Điều 143, Điều 144 và Điều 145 của Luật tố tụng hành chính là chưa đầ y đủ theo tinh thầ n củ a Luậ t tố tụ ng hà nh chí nh. Cụ thể đó là:

- Việc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa tự ấn định thời gian giao nộp chứng cứ không có căn cứ theo quy đị nh củ a Luậ t tố tụ ng hà nh chí nh (chỉ Thông bào cho người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện nhưng không thông báo cho những người tham gia tố tụng khác ) mà không chủ động tiến hành thu thập chứng cứ là vi phạm theo quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Tố tụng hành chính đã quy định “Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập tài liệu chứng và tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án hoặc đương sự theo quy định của Luật này.”

- Quá trình tiến hành tố tụng , cấ p sơ thẩ m đã thể hiệ n trá ch nhiệ m trong việ c xá c đị nh ngườ i kế thừ a quyền và nghĩ a vụ củ a ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Văn D. Hồ sơ vụ án thể hiện, cấ p sơ thẩ m đã tiế n hà nh thu thậ p lờ i khai củ a dương sự có liên quan nhưng không yêu cầ u cung cấ p đị a chỉ (biế t hay không biế t đị a chỉ mộ t số ngườ i kế thừ a quyế n và nghĩ a vụ củ a ngườ i có quyền lợi , nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Văn Dậu ) và chưa thu thập , xác minh đầ y đủ tạ i cơ quan có thẩ m quyề n để xá c đị nh đị a chỉ mộ t số ngườ i ngườ i kế thừ a quy ền và nghĩ a vụ củ a ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Văn Dậ u là thực hiện chưa đầy đủ theo tinh thần khoản 2 Điều 9 Luật Tố tụng hành chính đã quy định.

Về điều luật áp dụng, Tòa án nhân dân TP.Biên Hò a nhận định người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện là bà Lý Thị Ngọc H không cung cấp địa chỉ ngườ i kế thừ a quy ền và nghĩ a vụ củ a ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên quan là ông Ngô Văn D là các ông bà Ngô Mộng Phương K, ông Ngô Đăng Trường D, Ngô Đăng Trường M theo yêu cầu nên đã đình chỉ giải quyết vụ án căn cứ theo điểm c khoản 1 Điều 123, của Luật tố tụng hành chính là không đúng tinh thần của điều luật “về điều kiện khởi kiện nhưng người khởi kiện đã khởi kiện đến Tòa án còn thiếu một trong những điều kiện đó”.

Từ những phân tích trên, việc Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án với lý do người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện không cung cấp địa chỉ của những người thừa kế quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Văn D gồm Ngô Mộng Phương K, ông Ngô Đăng Trường D, Ngô Đăng Trường M là chưa đầ y đủ theo tinh thầ n quy định của Luật tố tụ ng hà nh chí nh. Do đó , kháng cáo của ngườ i khờ i kiệ n là bà Lương Ngọ c T là có căn cứ đượ c chấp nhận.

Về án phí: Do kháng cáo của người kh ởi kiệ n là bà Lương Ngọ c T được chấp nhận nên người khởi kiện không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên họp:

- Việ c chấ p hà nh phá p luậ t tố tụ ng: đượ c thự c hiệ n đầ y đủ theo quy đị nh của Luật tố tụng hành chính.

- Về nộ i dung khá ng cá o củ a ngườ i khở i kiệ n:

Việc Tòa án nhân dân TP .Biên Hò a ban hành quyết định đình chỉ số 05/2018/QĐST-HC ngày 16/11/2018 là không có căn cứ, tự ấn định thời gian giao nộp chứng cứ, mà không chủ động tiến hành thu thập chứng cứ theo khoản 2 Điều 9 Luật Tố tụng hành chính đã qui định “ Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đương sự trong việc thu thập tài liệu chứng và tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án hoặc đương sự theo quy định của Luật này”. Như vậy, trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ban hành quyết định đình chỉ trên chỉ ra thông báo số 134/2018/TB-TA ngày 08/10/2018 cho người đại diện người khởi kiện là Bà Lý Thị Ngọc Hiệp.

Ngày 11/10/2018, Tòa án cấp sơ thẩm có mời ông Nguyễn Thành Quốc B, Ngô Mộng Phương T, Ngô Mộng Phương L để làm bản khai trong đó có thể hiện chưa có địa chỉ rõ ràng như: Ngô Mộng Phương K, Ngô Đăng Trường V, Ngô Đặng Trường D, Ngô Đặng Trường H, Ngô Đặng Trường M. Tuy nhiên, Tòa cấp sơ thẩm đã tiến hành lấy lời khai nhưng không yêu cầu cung cấp địa chỉ cụ thể cho Tòa án để làm căn cứ triệu tập đến tòa. Như vậy, Tòa cấp sơ thẩm chưa thực hiện đúng theo khoản 2 Điều 9 Luật Tố tụng hành chính.

Đề nghị Tò a á n nhân dân tỉ nh Đồ ng Nai c ăn cứ điểm c khoản 5 điều 243 luật tố tụ ng hà nh chí nh chấp nhận Đơn kháng cáo của người khởi kiện là bà Lương Ngọ c Tư , hủy quyết định đình chỉ số 05/2018/QĐST-HC ngày 16/11/2018 của Tòa án nhân dân Tp Biên Hòa.

Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉ nh Đồ ng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm c khoản 5 Điều 243; Điề u 349 của Luật tố tụng hành chính và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngà y 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu , miễ n giả m, thu, nộ p và sử dụ ng á n phí , lệ phí Tòa án,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận kháng cáo của ngườ i khở i kiệ n là bà Lương Ngọc T.

Hủy quyết định đình chỉ số 05/2018/QĐST - HC ngày 16 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính về bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất”. Chuyể n hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa để tiếp tục giải quyết vụ án.

2. Về án phí: Hoàn trả cho ngườ i khở i kiệ n là bà Lương Ngọc T số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp tại biên lai thu số 009834 ngày 04/12/2018 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ