vanban.org

Quyết định 14/2018/QĐ-TA

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 17/01/2018 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với Nguyễn Thị T, sinh năm 1992, ĐKHKTT: thôn HT, xã BT, huyện CĐ, tỉnh BK; chỗ ở: nơi cư trú không ổn định Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Thị T sinh năm 1992, là người nghiện ma túy từ tháng 4/2017, tốt nghiệp bỏ học, không nơi cư trú"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
  • Căn cứ chính? Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THÁI NGUYÊN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số:14/2018/QĐ- TAThái Nguyên, ngày 17 tháng 01 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán:Bà Chu Thị Bích Hiền

2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền

Ngày 17 tháng 01 năm 2018 tại trụ sở Cơ sở Tư vấn và Điều trị, cai nghiện

ma túy tỉnh Thái Nguyên, Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 07/2018/QĐ - TA ngày 05 tháng 01 năm 2017, đối với:

Họ và tên: Nguyễn Thị T, sinh năm 25/3/1992; Giới tính: Nữ

Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12

ĐKHKTT: thôn HT, xã BT, huyện CĐ, tỉnh BK;

Chỗ ở: lang thang.

Con ông: Nguyễn Duy Nhâm; con bà: Vũ Thị Xoan.

Nghề nghiệp: không; Tiền án; tiền sự: không.

(Có mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đào Quang Sinh – Chức vụ: Phó Trưởng

phòng Lao động Thương binh và xã hội thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên: Ông Nguyễn

Đức Chiến – Chức vụ: Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY

Vào hồi 22 giờ 00 phút ngày 10/12/2017, tổ công tác Công an thành phố Thái

Nguyên, tỉnh Thái Nguyên phát hiện T đang lang thang tại khu vực bến xe cũ (thuộc phường Phan Đình Phùng) để mua ma túy sử dụng và thừa nhận là người nghiện ma túy. Công an thành phố Thái Nguyên đã test nhanh nước tiểu xác định dương tính với ma túy và lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Nguyễn Thị T.

Tại bản tường trình và biên bản biên bản sự việc ngày 11/12/2017 Nguyễn

Thị T khai nhận: T thừa nhận bắt đầu sử dụng ma túy từ tháng 4 năm 2017, hình thức sử dụng bằng cách chích, lần sử dụng ma túy gần đây nhất là ngày 10/12/2017. Theo Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 05/12/2017 Trạm y tế phường Quang Trung xác định Nguyễn Thị T có nghiện ma túy loại sử dụng Heroin.

Ngày 11/12/2017 Chủ tịch UBND phường Quang Trung có quyết định số 571

giao T cho Cơ sở tư vấn và điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên quản lý trong thời gian chờ làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

Ngày 27/12/2017 Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố Thái

Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã có công văn số 765/LĐTB&XH đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị T từ 12-14 tháng.

Tại phiên họp ngày hôm nay, Đại diện phòng Lao động, thương binh và xã

hội thành phố Thái Nguyên giữ nguyên quan điểm tiếp tục đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị T tại Cơ sở Tư vấn và điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên với thời gian 12 đến 14 tháng.

Tại phiên họp hôm nay người bị đề nghị Nguyễn Thị T có ý kiến: Việc lập hồ

sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T là hoàn toàn đúng, quá trình lập hồ sơ T đã được biết và được nghe đọc lại hồ sơ, nhất trí với đề nghị của Phòng lao động, thương binh và xã hội thành phố Thái Nguyên. Thảo xác định đã sử dụng nghiện ma túy từ tháng 3/2017 lần sử dụng ma túy gần nhất là sáng ngày 10/12/2017, việc công an phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên tiến hành lập hồ sơ đối với T là đúng quy định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên có ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc

từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại Điều 3, 7, 8, 9,10,11,12,14,16,17 và Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

- Quan điểm của KSV về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện

pháp xử lý hành chính: Qua xem xét tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên họp thấy có đủ cơ sở để khẳng định Nguyễn Thị T là người nghiện chất ma túy, đã đủ 18 tuổi, sống lang thang, không nơi cư trú ổn định. Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 8,9, 11,12,13 Nghị định số 221 ngày 30/12/2013 của Chính Phủ; Điều 9 Nghị định 136/NĐ-CP ngày 9/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số Điều của nghị định 221; khoản 1 Điều 3, các Điều 23, 29, 30, 31 và 32 Pháp lệnh số 09/2014 của UBTV Quốc hội 13 về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án thành phốThái Nguyên giải quyết theo hướng chấp nhận đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị T thời hạn 12 tháng.

XÉT THẤY

Qua xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ

sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị T:

- Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính số

15/2012/QH13 ngày 20/6/2012, Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên.

- Về thời hiệu: Ngày 11/12/2017 Công an phường Quang Trung, thành phố

Thái Nguyên lập biên bản vi phạm hành vi hành chính đối với Nguyễn Thị T về việc sử dụng ma túy trái phép, bản thân Nguyễn Thị T thừa nhận sử dụng nhất là ngày 10/12/2017. Do đó đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố Thái Nguyên đối với Nguyễn Thị T tới thời điểm hiện nay vẫn đảm bảo về thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 4 Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Về hồ sơ đề nghị: Đã có đầy đủ theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều

104 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1,2 Điều 9 Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (đã được sửa đổi bổ sung tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ).

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề

nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, người bị đề nghị và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên thấy:

Nguyễn Thị T là người nghiện ma túy từ tháng 4/2017, ngày 11/12/2017

công an phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy qua xét nghiệm xác định Nguyễn Thị T nghiện ma túy loại heroin, bản thân T thừa nhận vừa sử dụng ma túy ngày 10/12/2017 hiện T đang đi tìm mua ma túy để sử dụng thì bị công an kiểm tra, lập biên bản vi phạm hành vi hành chính về việc sử dụng ma túy trái phép đối với Nguyễn Thị T là đúng. Nguyễn Thị T có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn HT, xã BT, huyện CĐ, tỉnh BK tuy nhiên qua xác minh tại Công an xã BT, huyện CĐ xác định Nguyễn Thị T, sinh 1992 có hộ khẩu thường trú tại địa phương; con ông Nguyễn Duy Nhâm, con bà Vũ Thị Xoan. Sau khi tốt nghiệp THPT T rời khởi địa phương đi làm ăn ở ngoài, khoảng 2,3 tháng nay T đi đâu làm gì địa phương không rõ. Như vậy có đủ căn cứ để xác định Nguyễn Thị T là“Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên...nhưng không có nơi cư trú ổn định” theo quy định tại khoản 1 Điều 2 và Điều 3 Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ.

Xét hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Thị T là trái quy

định của pháp luật, xâm phạm quyền quản lý, sử dụng độc quyền chất ma túy của Nhà nước, hành vi đó không chỉ hủy hoại sức khỏe của bản thân, làm khánh kiệt kinh tế gia đình, mà việc sử dụng chất ma túy còn là nguồn gốc, điều kiện nảy sinh, lan truyền đại dịch HIV/AIDS, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn và tội phạm khác gây mất trật tự trị an địa phương đồng thời gây tác động tiêu cực đến quá trình đấu tranh bài trừ tệ nạn ma túy ra khỏi đời sống xã hội. Nguyễn Thị T là người đã trưởng thành, bản thân biết rõ tác hại của ma túy cũng như quy định của pháp luật về việc nghiêm cấm sử dụng chất ma túy nhưng do thiếu ý thức rèn luyện bản thân nên T đã sử dụng ma túy.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của người bị áp dụng:

Nguyễn Thị T không phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 10 Luật xử phạt vi phạm hành chính. Trong quá trình lập hồ sơ, Nguyễn Thị T đã tự nguyện viết bản tường trình, tự nguyện khai báo được coi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Để đảm bảo cho Nguyễn Thị T được chữa bệnh, phục hồi sức khỏe, học tập

văn hóa, đồng thời để hạn chế tái nghiện ở cộng đồng, giúp Nguyễn Thị T trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội, do đó Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố Thái Nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Thị T với thời hạn từ 12 đến 14 tháng là có căn cứ và phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Từ những đánh giá trên:

Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều

96; Điều 103; khoản 2 Điều 105; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ khoản 1 Điều 3; Điều 23; Điều 29; Điều 30; Điều 31; Điều 32 Pháp

lệnh số: 09/2014/UBTVQH 13 ngày 20 tháng 01 năm 2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp hành chính tại Tòa án nhân dân;

Căn cứ Nghị định số 221/2013/NĐ – CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy

định về chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính Phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013;

Căn cứ Nghị quyết số: 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng

Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;

Căn cứ đề nghị của Phòng Lao động thương binh xã hội thành phốThái

Nguyên, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phốThái Nguyên;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1.Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với Nguyễn Thị T, sinh năm 1992, ĐKHKTT: thôn HT, xã BT, huyện CĐ, tỉnh BK; chỗ ở: nơi cư trú không ổn định

2.Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (Mười hai) tháng,

kể từ ngày Cơ sở Tư vấn và điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận Nguyễn Thị T để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3.Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ

quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố Quyết định.

Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy

định tại Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động - Thương binh & Xã

hội thành phố Thái Nguyên phối hợp với Công an thành phố Thái Nguyên đưa người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, Cơ sở Tư vấn và Điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người người phải chấp hành quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

THẨM PHÁN

Cỡ chữ