- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần T.
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BẾN TRE Số: 14/2017/QĐ-TA | Giồng Trôm, ngày 15 tháng 9 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Thế Hồng.
2. Thư ký phiên họp: Bà Phạm Ngọc Ánh.
Ngày 15 tháng 9 năm 2017, tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre (xã Tân Xuân, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre) tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 14/QĐ-TA ngày 08 tháng 9 năm 2017 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre đối với:
Trần T. Tên gọi khác: H
Sinh năm: 1981.
Số CMND: 321055XXX.
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 9/12;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: ấp Đ, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre.
Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.
Nghề nghiệp: Không
Tiền án: Không
Tiền sự: 02 (Hai)
- Ngày 27/11/2015 bị Công an xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Chưa nộp phạt).
- Ngày 25/4/2017 bị Công an xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (Đã nộp phạt).
Con ông Trần D và bà Nguyễn L.
Anh Trần T có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Văn D – Cán bộ Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G, tỉnh Bến Tre. (Nhận ủy quyền từ Trưởng phòng).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G, tỉnh Bến Tre: Ông Võ B - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thụ lý số 14 ngày 06/9/2017, nội dung cụ thể như sau:
Ngày 24/7/2017, Công an xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre nghi vấn anh Trần T sử dụng trái phép chất ma túy nên mời về trụ sở để làm rõ. Tại Công an xã L, anh Trần T thừa nhận có mua và sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 24/7/2017 tại xã M, thành phố B nên Công an xã L mời Trạm y tế xã đến để xét nghiệm. Kết quả anh Trần T dương tính với Morphin (Heroin). Do đó tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính và xác minh thu thập tài liệu lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 05/9/2017 Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G, tỉnh Bến Tre có văn bản số 542/LĐTBXH với nội dung đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm áp dụng biện pháp xử lý hành chính Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần T với thời gian 24 tháng.
Tại phiên họp:
Đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G có ý kiến: Trần T đã thành niên và nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định nên có đủ căn cứ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần T tại Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh B (xã T, huyện B, tỉnh Bến Tre) với thời gian 24 tháng.
Anh Trần T trình bày: Anh T bắt đầu sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2007. Năm 2012, anh được đưa đến cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm thời gian 02 năm. Năm 2015, anh được tham gia điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone nhưng anh bỏ thuốc nên phải ngưng điều trị. Anh thừa nhận thường xuyên vắng mặt nơi cư trú, anh đi làm ở nhiều nơi để kiếm sống nên không có nơi cư trú ổn định. Vì vậy, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh thời gian 24 tháng anh yêu cầu Tòa án xem xét giảm thời gian bắt buộc cai nghiện cho anh để anh có điều kiện sớm về lo cho gia đình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện G phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình thụ lý, giải quyết Tòa án thực hiện đúng quy định tại các Điều 3, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 14, 16, 17 và Điều 20 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đúng theo quy định tại các điều 96, 103, 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 12 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Điều 3, Điều 4; Điều 9 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 đã được sửa đổi bổ sung theo Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ. Đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G đối với Trần T là có cơ sở nên đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần T.
XÉT THẤY:
Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Trần T đã được Công an xã L, Phòng tư pháp, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G, tỉnh Bến Tre lập đúng và đầy đủ theo trình tự thủ tục pháp luật quy định nên đã hợp pháp.
Tại biên bản vi phạm hành chính ngày 24/7/2017 của Công an xã L, huyện G thể hiện anh Trần T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy có chữ ký tên và xác nhận của anh T.
Tại biên bản xét nghiệm chất ma túy ngày 24/7/2017 của Trạm y tế xã L thể hiện anh Trần T dương tính với Morphin (Heroin)và phiếu trả lời kết quả về việc xác định trình trạng nghiện ma túy ngày 24/7/2017 của Trạm y tế xã L thể hiện anh Trần T có nghiện ma túy loại ma túy Heroin thuộc nhóm Opiats.
Tại bản tự khai ngày 24/7/2017 do anh Trần T tự viết và ký tên; Biên bản xác minh vụ việc vi phạm hành chính ngày 24/7/2017 của Công an xã L cũng như lời trình bày của anh Trần T tại phiên họp đều thừa nhận ngày 24/7/2017 anh T có sử dụng trái phép chất ma túy.
Theo báo cáo tình trạng cư trú của Ủy ban nhân dân xã L ngày 03/8/2017 và các biên bản xác minh đều thể hiện anh T thường xuyên không có mặt tại nhà và địa phương nơi đăng ký thường trú, không có nơi cư trú ổn định.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính: “Đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú ổn định”.
Anh Trần T vi phạm trong trường hợp người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên không có nơi cư trú ổn định nên thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Anh Trần T biết rõ chất ma túy là chất độc hại, việc sử dụng chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý sử dụng chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Hành vi của anh T đã xâm phạm đến chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an.
Theo quy định tại Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính: “Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm quy định tại Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính đã nêu trên là để chữa bệnh, lao động, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc” Do đó, việc đưa anh Trần T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là cần thiết nhất là “Chữa bệnh - Cứu người”.
Về tình tiết tăng nặng: Ngày 27/11/2015 bị Công an xã L, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 25/4/2017 bị Công an xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Theo quy định tại Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính anh T có tình tiết tăng nặng là tái phạm.
Về tình tiết giảm nhẹ: Anh Trần T có 01 (một) tình tiết giảm nhẹ là đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Từ những nhận định trên, xét anh Trần T là người trên 18 tuổi, có nhân thân xấu, nghiện ma túy và hiện không có nơi cư trú ổn định nên thuộc trường hợp bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 95 và khoản 1 Điều 96 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Theo đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện Giồng Trôm về thời gian nên áp dụng mức cao nhất là 24 tháng theo quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính là có cơ sở. Tuy nhiên, tại phiên họp anh T có thái độ thành khẩn, tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi nên Tòa án xem xét giảm cho anh T, áp dụng mức ít hơn 3 tháng so với mức đề nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Trần T.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 21 (Hai mươi mốt) tháng, kể từ ngày 24/7/2017.
3. Anh Trần T có quyền khiếu nại; Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát nhân dân huyện G có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện G; Công an huyện G; Cơ sở cai nghiện ma túy thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bến Tre có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Người bị đề nghị; - Phòng LĐ-TB và XH huyện Giồng Trôm; - VKSND huyện Giồng Trôm; - CA huyện Giồng Trôm; - Phòng KTNV và THA-TAND tỉnh Bến Tre; - Cơ sở cai nghiện ma túy; - UBND xã L; - Công an xã L; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký) Nguyễn Thế Hồng |