- Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "QĐ giải quyết VHNGĐ C-N"
- Tòa quyết gì? Bác yêu cầu của ông Đinh Hữu N và bà Vũ Thị C về chấm dứt việc nuôi con nuôi.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 139/2023/QĐST - VDS | Mỹ Đức, ngày 03 tháng 7 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Chấm dứt việc nuôi con nuôi
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Lã Phi Hùng
Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Duy Quang, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Lan - Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở TAND huyện Mỹ Đức mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 133/2023/TLST – VDS ngày 19/6/2023 về yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 58/2023/QĐST – VDS ngày 23/6/2023 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Đinh Hữu N, sinh năm 1971; bà Vũ Thị C, sinh năm 1972.
Đều có HKTT: Đội 11, thôn V, xã V, huyện M, Thành phố Hà Nội. Có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu Hoàng Gia B, sinh ngày 24/7/2017; bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1942.
Đều có HKTT: Thôn T, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội. Bà L đề nghị vắng mặt.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi và những lời khai tại Tòa, người yêu cầu ông Đinh Hữu N, bà Vũ Thị C đều trình bầy:
Ông Đinh Hữu N và bà Vũ Thị C là vợ chồng, năm 2017 chùa T, thuộc thôn T, xã H Sơn, huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội có nhặt được một cháu bé bị bỏ rơi tại khu vực chùa T. Chùa T đã trình báo với UBND xã H. UBND xã H đã thực hiện thủ tục pháp lý và đăng ký khai sinh cho cháu bé bị bỏ rơi tên là Hoàng Gia B, sinh ngày 24/8/2017. Sau đó vợ chồng ông N, bà C có xin nhận nuôi con nuôi và làm thủ tục nhận nuôi con nuôi đối với cháu Hoàng Gia B và được UBND xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho vợ chồng ông Đinh Hữu N, bà Vũ Thị C ngày 17/11/2018. Sau khi nhận cháu Hoàng Gia B về nuôi, vợ chồng ông N, bà C đăng ký hộ khẩu cho cháu Hoàng Gia B về nơi ông N, bà C cư trú. Trong quá trình nuôi dưỡng cháu B được ít ngày, thì ông N, bà C không nuôi nữa mà trả cháu B về chùa T ở với bà Nguyễn Thị L từ cuối năm 2017 cho đến nay, nên ông N, bà C đề nghị Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức giải quyết chấm việc nuôi con nuôi đối với cháu Hoàng Gia B.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L trình bầy: Năm 2017 chùa T có nhặt được một cháu bé bị bỏ rơi tại khu vực chùa, nơi bà L trù trì. Chùa T đã trình báo với UBND xã H. UBND xã H đã đăng ký khai sinh cho cháu bé bị bỏ rơi tên là Hoàng Gia B, sinh ngày 24/8/2017. Thực tế ông Đinh Hữu N, bà Vũ Thị C xin cháu Hoàng Gia B về nuôi, nhưng ông N, bà C chỉ nuôi được 07 ngày thì ông N, bà C lại trả cháu B cho chùa T nuôi dưỡng, hiện nay cháu Hoàng Gia B đã chuyển khẩu từ xã V về xã H nơi bà Nguyễn Thị L cư trú.
Xác minh tại xã UBND xã V, xã UBND xã H đều thể hiện: Năm 2017 tại chùa T có nhặt được một cháu bé bị bỏ rơi, chùa T đã trình báo với UBND xã H. UBND xã H đã thực hiện đầy đủ thủ tục pháp lý và đăng ký khai sinh cho cháu bé bị bỏ rơi tên là Hoàng Gia B, sinh ngày 24/8/2017. Sau đó vợ chồng ông Đinh Hữu N, bà Vũ Thị C có làm thủ tục nhận nuôi con nuôi đối với cháu Hoàng Gia B và được UBND xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi cho vợ chồng ông N, bà C. Sau khi ông N, bà C xin cháu B về nuôi, nhưng ông N, bà C nuôi được ít ngày rồi trả cháu B về chùa T nuôi dưỡng, hiện nay cháu Hoàng Gia B đã chuyển khẩu từ xã V về xã H nơi bà Nguyễn Thị L cư trú.
Đại diện VKSND huyện Mỹ Đức tham gia phiên họp phát biểu về việc giải quyết việc dân sự:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký xử đã tuân thủ đúng các quy định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết việc dân sự. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình.
- Về nội dung: Đề nghị Tòa án bác yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Đinh Hữu N, bà Vũ Thị C đối với cháu Hoàng Gia B, sinh ngày 24/8/2017.
- Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Đinh Hữu N, bà Vũ Thị C phải chịu toàn bộ lệ phí giải quyết việc dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền của Tòa án: Yêu cầu về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi, là loại việc Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, do người yêu cầu có nơi cư trú tại huyện Mỹ Đức, nên căn cứ vào khoản 5 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm l khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
- Về yêu cầu của đương sự:
Trên cơ sở lời khai của các đương sự và xác minh tại UBND xã H, UBND xã V và các tài liệu có trong hồ sơ, xác định ông Đinh Hữu N và bà Vũ Thị C đã thực hiện thủ tục nhận nuôi con nuôi là cháu Hoàng Gia B, sinh ngày 24/8/2017. Sau khi hoàn thiện các thủ tục thì ông N, bà C đón cháu B về ở cùng gia đình ở Đội 11, thôn V, xã V, huyện M, Thành phố Hà Nội và chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông N, bà C nuôi cháu B được một thời gian thì trả lại cho chùa T, xã H, huyện M, Thành phố Hà Nội nuôi dưỡng.
Xét yêu cầu được chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Đinh Hữu N và bà Vũ Thị C; căn cứ vào các quy định của pháp luật về Luật nuôi con nuôi thì không có căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi, nên yêu cầu được chấm dứt việc nuôi con nuôi của ông Đinh Hữu N và bà Vũ Thị C không được chấp nhận.
-Về lệ phí dân sự: Ông Đinh Hữu N và bà Vũ Thị C phải chịu lệ phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm h khoản 1 Điều 369 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án.
1. Bác yêu cầu của ông Đinh Hữu N và bà Vũ Thị C về chấm dứt việc nuôi con nuôi.
2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Ông Đinh Hữu N và bà Vũ Chín phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí giải quyết việc dân sự, được đối trừ vào khoản tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0039367 ngày 19/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức. Ông N, bà C đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có kháng nghị trong hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 10 ngày kÓ tõ ngµy nhận được quyết định hoặc ngày quyết định được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố; - VKSND Thành phố, huyện; - Chi cục THADS huyện; - Các đương sự; - Lưu:Hồ sơ việc dân sự. | TM. HỘI ĐỒNG GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lã Phi Hùng |