vanban.org

Quyết định 138/2021/QĐDS-ST — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 25/06/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của Bà Đặng Thị C về việc tuyên bố Bà Nguyễn Thị G là đã chết.

Tuyên bố Nguyễn Thị Gái, sinh năm 1969, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Lương Q, xã Xuân N, huyện A, thành phố Hà Nội đã chết ngày 03 tháng 04 năm 2016. Khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Bà Đặng Thị Cẩm C yêu cầu tuyên bố bà NGuyễn Thị G là đã chết"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của Bà Đặng Thị C về việc tuyên bố Bà Nguyễn Thị G là đã chết.
  • Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HÀ NỘI
_____________________
Số: 138/2021/QĐDS-ST
Ngày: 25/6/2021
V/v: Yêu cầu tuyên bố một người
là đã chết.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp:

Bà Đỗ Thị Vân.

Thư ký phiên họp:

Bà Ngô Thị Thu Hà.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A, thành phố Hà Nội tham gia phiên họp: Bà Hoàng Thị Hồng Chiêm – Kiểm sát viên.

Trong ngày 25 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện A, Thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 29/2021/TLST-VDS ngày 26 tháng 01 năm 2021 về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết theo Quyết định mở phiên họp số: 18/2021/QĐPH-VDS ngày 17 tháng 6 năm 2021.

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Đặng Thị C, sinh năm 1946. Hộ khẩu thường trú: Thôn Lương Q, xã Xuân N, huyện A, Thành phố Hà Nội.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1. Ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1946 (Chồng Bà C).

2.2. Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1969.

Đều có hộ khẩu thường trú: Thôn Lương Q, xã Xuân N, huyện A, Thành phố Hà Nội.

Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Bà Đặng Thị C yêu cầu Tòa án tuyên bố Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1969, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Lương Q, xã Xuân N, huyện A, thành phố Hà Nội là đã chết.

Có mặt: Bà C, ông N.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện A nhận định:

Tại đơn yêu cầu đề ngày 25/01/2021 và các bản tự khai tiếp theo, người yêu cầu, Bà Đặng Thị C trình bày:

Bà có chồng là ông Nguyễn Hữu N, sinh năm 1946. Vợ chồng bà sinh được 06 người con gồm:

- Nguyễn Hữu N, sinh năm 1968.

- Nguyễn Thị P, sinh năm 1972.

- Nguyễn Thị T, sinh năm 1975.

- Nguyễn Xuân T , sinh năm 1977.

- Nguyễn Thị T, sinh năm 1979.

- Nguyễn Hữu P, sinh năm 1981.

Ông Nguyễn Hữu N kết hôn với Bà Nguyễn Thị G năm 1998. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông N sinh sống và chung hộ khẩu với gia đình bà. Quá trình chung sống vợ chồng ông N, Bà G sinh được 02 người con là Nguyễn Hữu M, sinh ngày 07/9/1999 và Nguyễn Hữu Q, sinh ngày 26/01/2003.

Bà không biết lý do tại sao cuối năm 2003, Bà G đã tự ý bỏ nhà đi biệt tích và mang theo cả 02 con nhỏ. Gia đình bà đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của 03 mẹ con Bà G.

Năm 2013, ông Nguyễn Hữu N đã làm đơn yêu cầu tuyên bố Bà G mất tích. Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 05/2013/QĐST-VDS ngày 02/4/2013 của Tòa án nhân dân huyện A đã tuyên bố Bà G mất tích.

Tại Bản án hôn nhân gia đình số 34/2014/HNGĐ-ST ngày 23/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện A đã xử cho ông Nguyễn Hữu N được ly hôn Bà Nguyễn Thị G với lý do Bà G mất tích.

Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số 135/2020/QĐST-VDS ngày 29/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện A đã tuyên bố ông Nguyễn Hữu N mất năng lực hành vi dân sự và cử bà là người giám hộ của ông N.

Hiện nay 03 mẹ con Bà G vẫn chung sổ hộ khẩu với gia đình bà. Bà không biết Bà G ở đâu, còn sống hay đã chết. Gia đình bà đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của Bà G. Bà G đã biệt tích gần 18 năm, hiện không biết ở đâu.

Nay, để thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của hộ gia đình phát sinh trong đời sống, bà đề nghị Tòa án tuyên bố Bà Nguyễn Thị G là đã chết.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hữu Nnhất trí với quan điểm của Bà Đặng Thị C.

Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phát biểu ý kiến và đề nghị Toà án: Chấp nhận yêu cầu của Bà Đặng Thị C về việc tuyên bố Bà Nguyễn Thị G là đã chết.

Bà C được miễn tiền lệ phí theo quy định của pháp luật.

Sau khi nghe người yêu cầu, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày, xem xét tài liệu, chứng cứ và ý kiến đề nghị của Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện A tại phiên họp.

XÉT THẤY

Bà Đặng Thị C có chồng là Nguyễn Hữu N. Vợ chồng Bà C sinh được 06 người con gồm: Nguyễn Hữu N, sinh năm 1968; Nguyễn Thị P, sinh năm 1972; Nguyễn Thị T, sinh năm 1975; Nguyễn Xuân T, sinh năm 1977; Nguyễn Thị T, sinh năm 1979; Nguyễn Hữu P, sinh năm 1981.

Ông Nguyễn Hữu N kết hôn với Bà Nguyễn Thị G năm 1998. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông N sinh sống và chung hộ khẩu với gia đình Bà C. Vợ chồng ông N, Bà G sinh được 02 người con là Nguyễn Hữu M, sinh ngày 07/9/1999 và Nguyễn Hữu Q, sinh ngày 26/01/2003.

Cuối năm 2003, Bà G đã tự ý bỏ nhà đi biệt tích và mang theo cả 02 con là Nguyễn Hữu M và Nguyễn Hữu Q. Gia đình Bà C đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì của 03 mẹ con Bà G.

Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số: 05/2013/QĐST-VDS ngày 02/4/2013 của Tòa án nhân dân huyện A đã tuyên bố Bà G mất tích.

Tại Bản án hôn nhân gia đình số: 34/2014/HNGĐ-ST ngày 23/9/2014 của Tòa án nhân dân huyện A đã xử cho ông Nguyễn Hữu N được ly hôn Bà Nguyễn Thị G với lý do Bà G mất tích.

Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số: 135/2020/QĐST-VDS ngày 29/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện A đã tuyên bố ông Nguyễn Hữu N mất năng lực hành vi dân sự và cử Bà C là người giám hộ của ông N.

Ngày 27/4/2021, Công an xã Xuân N, huyện A có văn bản xác nhận Bà G cùng 02 con không có mặt tại địa phương từ năm 2003, nhưng vẫn có hộ khẩu tại thôn Lương Q, xã Xuân N, huyện A. Sau khi thụ lý việc dân sự, ngày 28/01/2021, Tòa án nhân dân huyện A đã ra Quyết định thông báo tìm kiếm thông tin về người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết, quyết định này đã được đăng, phát trên phương tiện thông tin đại chúng và thời hạn nhắn tin đã được hơn 04 tháng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Như vậy, sau gần 18 năm liền kể từ ngày Bà G bỏ đi mà vẫn không có tin tức xác thực là Bà G còn sống. Vì vậy, yêu cầu của Bà Đặng Thị C đề nghị tuyên bố Bà Nguyễn Thị G là đã chết có căn cứ nên được chấp nhận.

Về ngày chết của Bà Nguyễn Thị G được xác định như sau: Tại Quyết định giải quyết việc dân sự số: 05/2013/QĐST-VDS ngày 02/4/2013 của Tòa án nhân dân huyện A đã tuyên bố Bà Nguyễn Thị G mất tích. Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự thì ngày chết được xác định: Sau 03 năm, kể từ ngày quyết định tuyên bố mất tích của Tòa án có hiệu lực pháp luật mà vẫn không có tin tức xác thực là còn sống, như vậy ngày chết của bà Bà Nguyễn Thị G là ngày 03/4/2016.

Hậu quả pháp lý của việc tuyên bố một người là đã chết được giải quyết theo quy định tại Điều 72 của Bộ luật Dân sự.

Ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện A phù hợp pháp luật.

Về lệ phí: Bà C là người cao tuổi nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự.

Căn cứ khoản 4 Điều 27, các Điều 372, 391, 392, 393 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận yêu cầu của Bà Đặng Thị C về việc tuyên bố Bà Nguyễn Thị G là đã chết.

- Tuyên bố Nguyễn Thị Gái, sinh năm 1969, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Lương Q, xã Xuân N, huyện A, thành phố Hà Nội đã chết ngày 03 tháng 04 năm 2016.

- Khi quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân gia đình, các quan hệ nhân thân khác và quan hệ tài sản của Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1969, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn Lương Q, xã Xuân N, huyện A, thành phố Hà Nội được giải quyết như đối với người đã chết.

- Lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Bà Đặng Thị C thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí việc dân sự.

Bà Đặng Thị C và ông Nguyễn Hữu Ncó quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày ra quyết định. Những người tham gia tố tụng khác có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết quyết định hợp lệ tại địa phương nơi cư trú cuối cùng.

Cỡ chữ