- Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ V/v Xác định cha mẹ cho con của anh T và chị M"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 137/2025/QĐST-HNGĐ | Hà Nội, ngày 17 tháng 03 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Xác định cha mẹ cho con
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đặng Thu Phương
Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thu Hương- Thư ký Tòa án nhân dân quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình tham gia phiên họp: Bà Bùi Mai Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 03 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 911/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 12 năm 2024 về việc: “Yêu cầu xác định cha mẹ cho con”, theo Quyết định mở phiên họp số: 103/2025/QĐST – HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
-Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
1. Anh T.V.T, sinh năm 1996; HKTT và nơi ở: Xóm x, Xuân Phương, Xuân Trường, Nam Định. (có mặt)
2. Chị N.T.M, sinh năm 2001; HKTT và nơi ở: Tổ Y, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. (có mặt)
-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Cháu N.L.A, sinh ngày 16/08/2024; Đại diện theo pháp luật: Chị N.T.M, là mẹ đẻ của cháu L.A (có mặt).
NỘI DUNG
Theo nội dung đơn yêu cầu và lời khai tại phiên họp, chị N.T.M trình bày:
Vào năm 2023, chị quen anh T.V.T, cả hai nảy sinh mối quan hệ tình cảm và thời gian này chị đã mang thai. Ngày 16/8/2024, chị sinh cháu N.L.A (Theo giấy chứng sinh số 341125, quyển số 300000 do Bệnh viện phụ sản Hà Nội cấp ngày 16/8/2024.)
Tuy nhiên, giữa chị và anh T.V.T chỉ có quan hệ tình cảm, cả hai không có mục đích kết hôn, không phải là vợ chồng và không đăng ký kết hôn.
Nay để làm thủ tục khai sinh cho cháu N.L.A và xác định bố mẹ đẻ của cháu L.A trên Giấy khai sinh nên chị đề nghị Tòa án ra quyết định công nhận anh T.V.T là bố đẻ của cháu N.L.A; công nhận cháu N.L.A, sinh ngày 16/8/2024 là con đẻ của chị N.T.M và anh T.V.T.
Hiện tại chị là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu N.L.A, chị không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh T.V.T.
Tại Bản kết quả xét nghiệm AND ngày 07/01/2025 của Trung tâm phân tích ADN & Công nghệ di truyền: Mã số 123101 đã kết luận: “Cháu N.L.A là con của ông T.V.T, cháu N.L.A là con của bà N.T.M”. Chị M khẳng định cháu N.L.A sinh ngày 16/8/2024 là con đẻ của chị và anh T.V.T.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự, anh T.V.T trình bày:
Anh xác nhận mối quan hệ tình cảm giữa anh và chị N.T.M đúng như chị M trình bày. Giữa anh và chị M chỉ có quan hệ tình cảm yêu đương, không phải là vợ chồng, anh chị cũng không không có mục đích kết hôn. Anh xác nhận trong thời gian cả hai có quan hệ tình cảm thì chị M đã mang thai và sinh cháu N.L.A.
Nay để làm thủ tục khai sinh cho cháu N.L.A, anh đề nghị Tòa án làm thủ tục xác định quan hệ cha mẹ con cho cháu N.L.A; xác định anh là cha đẻ của cháu N.L.A. Hiện tại chị M là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu N.L.A và anh chị không yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con.
Anh T.V.T đã được công bố kết quả xét nghiệm ADN và đồng ý với Kết quả xét nghiệm ADN ngày 07/01/2025 của Trung tâm phân tích ADN & Công nghệ di truyền: Mã số 123101;
Tại phiên họp: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình phát biểu ý kiến: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc thụ lý việc dân sự, xác định đúng thẩm quyền, tư cách đương sự, tiến hành thủ tục tổng đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ. Những người yêu cầu giải quyết việc dân sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền, nghĩa vụ của đương sự khi tham gia tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị áp dụng khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39; khoản 3 Điều 367, Điều 370, 371 và Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự ; Điều 88, Điều 91 và Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình: Xác nhận anh T.V.T và chị N.T.M là cha mẹ đẻ của cháu N.L.A, sinh ngày 16/8/2024. Anh T.V.T và chị N.T.M được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Ba Đình nhận định:
Về tố tụng: Anh T.V.T và chị N.T.M có đơn đề nghị công nhận là cha, mẹ đẻ của cháu N.L.A, sinh ngày 16/8/2024. Người yêu cầu là chị N.T.M cư trú tại Tổ Y, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Đây là vụ việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ba Đình theo quy định tại Khoản 10 Điều 29, điểm b Khoản 2 Điều 35, điểm t Khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Thời gian vào năm 2023, anh T.V.T và chị N.T.M gặp gỡ và nảy sinh quan hệ tình cảm yêu đương. Trong thời gian này (tháng 10/2023), chị N.T.M đã mang thai. Đến ngày 16/8/2024, chị M sinh cháu N.L.A tại Bệnh viện phụ sản Hà Nội. Giấy chứng sinh số 341125, quyển số 300000 ngày 16/8/2024 do Bệnh viện phụ sản Hà Nội cấp xác định chị M là người sinh ra cháu N.L.A. Hiện tại cháu L.A do chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tuy nhiên, giữa anh T.V.T và chị N.T.M không có mục tiêu kết hôn và xác lập mối quan hệ vợ chồng.
Căn cứ vào kết quả xét nghiệm ADN ngày 07/01/2025 của Trung tâm phân tích ADN & Công nghệ di truyền: Mã số 123101, đã kết luận: “Cháu N.L.A là con của ông T.V.T; cháu N.L.A là con của bà N.T.M”. Vì vậy, yêu cầu của anh T.V.T và chị N.T.M đề nghị Tòa án nhân dân quận Ba Đình xác định anh chị là cha mẹ đẻ của cháu N.L.A là có căn cứ, cần được chấp nhận và giao cháu N.L.A cho chị M được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh T.V.T cho đến khi chị M có yêu cầu hoặc khi có sự thay đổi khác của pháp luật.
Về lệ phí: Anh T.V.T và chị N.T.M được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 10 Điều 29; điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39; Điều 367; Điều 370; Điều 371 và Điều 372 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 88; Điều 91 và Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
I. Chấp nhận yêu cầu của anh T.V.T và chị N.T.M.
Xác định anh T.V.T và chị N.T.M là cha mẹ đẻ của cháu N.L.A, sinh ngày 16/8/2024 (Giấy chứng sinh số 341125, quyển số 300000 ngày 16/8/2024 của Bệnh viện phụ sản Hà Nội).
Giao cháu N.L.A cho chị N.T.M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
II. Anh T.V.T và chị N.T.M có quyền, nghĩa vụ đến cơ quan đăng ký hộ tịch có thẩm quyền để đăng ký khai sinh (hoặc ghi chú) theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
II.Về lệ phí: Anh T.V.T và chị N.T.M được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm.
Đương sự có quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội; - Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình; - Chi Cục THA dân sự quận Ba Đình; - UBND nơi đăng ký khai sinh; - Đương sự; - Lưu hồ sơ việc dân sự; | (đã ký) Đặng Thu Phương |