vanban.org

Quyết định 137/2025/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Nguyễn Thị T. Tuyên bố chị Ngô Thị Q, sinh năm 1980; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn , xã T, huyện T, T phố Hà Nội là con gái ông Ngô Văn H (đã chết ngày 06/7/2024) và bà Nguyễn Thị T, đã chết từ ngày 01/01/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người đã chết"
  • Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Số: 137/2025/QĐST-DS

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

T, ngày 21 tháng 5 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

T phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Thu Huyền.

Thư ký phiên họp:

Bà Hoàng Thu Thảo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, T phố Hà Nội tham gia

phiên họp:

Bà Nguyễn Thị Việt Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, T phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc Dân sự thụ lý số 456/2024/TLST-DS ngày 18 tháng 12 năm 2024, về việc yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc Dân sự số 11/2025/QĐST-DS ngày 07 tháng 5 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1958. Nơi cư trú: Thôn , xã T, huyện T, T phố Hà Nội.

Bà T có mặt tại phiên họp.

2. Người bị yêu cầu:

Bà Ngô Thị Q, sinh năm 1980. Địa chỉ nơi cư trú cuối cùng: Thôn , xã T, huyện T, T phố Hà Nội.

Bà Q vắng mặt tại phiên họp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

+ Tại Đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết và các bản khai bà Nguyễn Thị T trình bày:

Bà có chồng là ông Ngô Văn H (đã chết ngày 06/7/2024). Bà và ông H sinh được 03 người con là Ngô Thị Q sinh năm 1980, Ngô Thị L sinh năm 1981, Ngô Văn H sinh năm 1984 (đã chết ngày 23/7/2010).

Chị Ngô Thị Q vẫn sinh sống từ nhỏ tại thôn , xã T, huyện T, T phố Hà Nội, đến năm 2004 thì chị Q được bạn gọi điện thoại rủ đi đâu không biết, bà không nhớ chính xác ngày chị Q bỏ nhà đi, bà chỉ nhớ khoảng giữa năm 2004. Sau khi chị Q bỏ nhà đi thì gia đình đã tìm kiếm khắp nơi, đã liên hệ bạn bè chị Q, báo chính quyền địa phương để tìm kiếm, tuy nhiên đến nay vẫn không có kết quả và vẫn không biết chị Q đang ở đâu. Chị Q chưa có chồng con.

Nay bà yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Ngô Thị Q, sinh năm 1980, nơi đăng ký thường trú và cư trú cuối cùng tại thôn , xã T, huyện T, T phố Hà Nội là đã chết, để gia đình giải quyết các thủ tục liên quan đến việc khai nhận di sản thừa kế. Ngoài ra bà không yêu cầu Tòa án giải quyết vấn đề nào khác.

Tại phiên họp:

- Bà T vẫn giữ nguyên các ý kiến, yêu cầu đã trình bày trong đơn và tại Tòa án. Bà T xác định cho đến thời điểm hiện nay sau khi bà tiếp tục đăng thông báo tìm kiếm chị Q công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật thì bà và gia đình bà vẫn không có tin tức gì của chị Q.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Hà Nội sau khi đánh giá chứng cứ, tài liệu do bà T xuất trình và do Tòa án thu thập được có trong hồ sơ việc dân sự. Đề nghị Tòa án chấp nhận Đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc tuyên bố một người là đã chết đối với chị Ngô Thị Q.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được kiểm tra tại phiên họp. Căn cứ vào trình bày của đương sự tại phiên họp trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp. Ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện T, T phố Hà Nội nhận định:

Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ của chị Ngô Thị Q. Bà T yêu cầu Tòa án tuyên bố chị Ngô Thị Q là đã chết. Chị Ngô Thị Q sinh năm 1980, có nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại thôn , xã T, huyện T, T phố Hà Nội. Căn cứ khoản 4 Điều 27; Điểm a khoản 2 Điều 35; Điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, T phố Hà Nội, quan hệ pháp luật là “yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”.

Về nội dung:

Chị Ngô Thị Q sinh năm 1980, nơi cư trú cuối cùng tại thôn , xã T, huyện T, T phố Hà Nội. Chị Q là con thứ nhất của bà Nguyễn Thị T và ông Ngô Văn H (đã chết ngày 04/7/2024). Từ khi sinh ra và lớn lên chị Q đăng ký thường trú và sinh sống cùng bố mẹ tại thôn , xã T, huyện T, T phố Hà Nội. Theo bà T xác định từ khoảng giữa năm 2004 chị Q đã tự bỏ nhà đi, bà không nhớ chính xác ngày chị Q bỏ nhà đi là ngày nào, chị Q chưa có chồng con. Ngay sau khi phát hiện chị Q bỏ nhà đi thì gia đình đã liên hệ bạn bè chị Q, báo chính quyền địa phương, tìm kiếm ở nhiều nơi, tuy nhiên đến nay vẫn không có tin tức gì của chị Q và vẫn không biết chị Q đang ở đâu.

Theo cung cấp của Ủy ban nhân dân xã T thì chị Ngô Thị Q sinh năm 1980 là con đẻ của bà Nguyễn Thị T và ông Ngô Văn H, chị Q không có mặt tại địa phương từ năm 2004 đến nay, chị Q chưa có chồng con. Chị Q đi đâu, làm gì địa phương không nắm được và không xác định được thời điểm cuối cùng chị Q có mặt tại địa phương là thời điểm nào. Hiện nay bà T và gia đình đều vẫn đăng ký thường trú và cư trú tại thôn , xã T, huyện T, T phố Hà Nội.

Theo cung cấp của Công an xã T thì theo Hộ khẩu thường trú chị Ngô Thị Q vẫn đăng ký thường trú cùng bố mẹ tại thôn , xã T, huyện T, T phố Hà Nội. Theo quản lý của Công an xã T thì từ năm 2019 đến nay chị Q đều không có mặt tại địa phương, chị Q đi đâu, làm gì địa phương không nắm được và không xác định được thời điểm cuối cùng chị Q có mặt tại địa phương là thời điểm nào. Hiện nay gia đình bà T vẫn ở tại địa phương. Chị Ngô Thị Q chưa làm căn cước công dân gắn chip tại địa phương và qua tra cứu dữ liệu quốc gia về dân cư thì không thấy chị Q đăng ký tạm trú tại địa chỉ nào.

Do vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật Dân sự xác định thời điểm chị Q bỏ đi không có tin tức gì là kể từ ngày 01/01/2020. Từ thời điểm ngày 01/01/2020 cho đến nay đã hơn 05 năm và bà T đã tìm kiếm chị Q trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức gì của chị Q. Ngày 30/12/2024, Tòa án nhân dân huyện T đã ban hành Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết đối với chị Ngô Thị Q và bà Nguyễn Thị T đã đăng thông báo tìm kiếm này trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực là chị Q còn sống. Bà T và gia đình yêu cầu tuyên bố chị Q là đã chết sau nhiều năm tìm kiếm mà vẫn không có tin tức gì để gia đình giải quyết các thủ tục liên quan đến việc khai nhận di sản thừa kế là phù hợp quy định của pháp luật.

Vì vậy, có đủ căn cứ xác định yêu cầu của bà Nguyễn Thị T về việc tuyên bố một người là đã chết đối với chị Ngô Thị Q là có căn cứ, phù hợp với điểm đ khoản 1 Điều 71 của Bộ luật Dân sự; Điều 391 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được chấp nhận.

Về xác định ngày chết của chị Ngô Thị Q: Như trên đã phân tích và xác định thời điểm chị Ngô Thị Q biệt tích là từ ngày 01/01/2020. Theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự thì sau 05 năm liền trở lên và không có tin tức xác thực là chị Ngô Thị Q còn sống thì đủ điều kiện tuyên bố chị Ngô Thị Q là đã chết, do vậy nên ngày chết của chị Ngô Thị Q được xác định là ngày 01/01/2025.

Về lệ phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T có đơn xin miễn nộp lệ phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị T là người cao tuổi thuộc đối tượng được miễn nộp lệ phí dân sự theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nên Tòa án chấp nhận và miễn nộp lệ phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị T. Số tiền 300.000 đồng bà Nguyễn Thị T đã nộp tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0071745 ngày 18/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, được hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị T.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điều 68; Điều 71; Điều 72 Bộ luật dân sự.

- Khoản 4 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39; Điều 149; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 393 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố một người là đã chết của bà Nguyễn Thị T.

Tuyên bố chị Ngô Thị Q, sinh năm 1980; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú cuối cùng: Thôn , xã T, huyện T, T phố Hà Nội là con gái ông Ngô Văn H (đã chết ngày 06/7/2024) và bà Nguyễn Thị T, đã chết từ ngày 01/01/2025.

Các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của chị Ngô Thị Q được giải quyết như đối với người đã chết.

2. Lệ phí việc dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T được miễn nộp tiền lệ phí dân sự sơ thẩm. Số tiền 300.000 đồng bà Nguyễn Thị T đã nộp tạm ứng lệ phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0071745 ngày 18/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, được hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị T.

3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày. Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ