vanban.org

Quyết định 137/2024/QĐPT — Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 31/12/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 31/12/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị đơn là các ông, bà Nguyễn Huy T3, Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị Y; hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 168/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh T. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh T để tiếp tục giả…

Về án phí: Các ông, bà Nguyễn Huy T3, Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị Y không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất — án dân sự — "thừa kế tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị đơn là các ông, bà Nguyễn Huy T3, Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị Y; hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 168/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh T. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh T để tiếp tục giả…
  • Căn cứ chính? Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự ban hành Quyết định đình chỉ giải; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 137/2024/QĐ-PTHà Nội, ngày 31 tháng 12 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI

QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Trọng Đoàn;

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Nam Thành;

Bà Trần Thị Quỳnh.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 168/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2024, Toà án nhân dân tỉnh T đã căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn E, xã E1, huyện K, tỉnh Đ.

Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn E, xã E1, huyện K, tỉnh Đ.

Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Huy T3, sinh năm 1952; địa chỉ: Số 28 ngõ 441, đường L, Tổ 14, phường L, quận H, thành phố H1.

Đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Tiến T3, sinh năm 1984; địa chỉ: Số 28 ngõ 441, đường L, Tổ 14, phường L, quận H, thành phố H1.

2. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn 1, xã N1, huyện N2, tỉnh T.

3. Bà Nguyễn Thị Y, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn 2, xã N1, huyện N2, tỉnh T.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn 5, xã N3, huyện N2, tỉnh T.

2. Bà Nguyễn Thị T4, sinh năm 1965; địa chỉ: Thôn 7, xã N3, huyện N2, tỉnh T.

3. Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1971; địa chỉ: Thôn Đ1, xã H2, huyện H3, tỉnh T.

4. Bà Nguyễn Thị T5, sinh năm 1976; địa chỉ: Thôn 8, xã N3, huyện N2, tỉnh T.

5. Ủy ban nhân dân xã N1, huyện N2, tỉnh T.

6. Ủy ban nhân dân huyện N2, tỉnh T.

Tại đơn kháng cáo ngày 06 tháng 11 năm 2024, ông Nguyễn Huy T3, ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị Y đề nghị hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 168/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh T với lý do ông Nguyễn Văn T1 rút đơn khởi kiện, nhưng quá trình giải quyết vụ án các ông, bà có đơn phản tố và các ông, bà Nguyễn Huy T3, Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị Y không rút yêu cầu phản tố.

XÉT THẤY:

Tại các đơn khởi kiện đề ngày 10/6/2024 và 28/6/2024, ông Nguyễn Văn T1 yêu cầu Tòa án chia thừa kế đối với khối di sản do cụ Phạm Thị Ng để lại là thửa đất số 55, tờ bản đồ số 01, diện tích 916m2 (đất ở) tọa lạc tại Thôn 1, xã N1, huyện N2, tỉnh T. Tòa án nhân dân huyện N2, tỉnh T đã thụ lý, giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn T1.

Ngày 07/8/2024, các ông, bà Nguyễn Huy T3, Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị Y có đơn phản tố đề nghị: Xử lý hành vi vu cáo của ông Nguyễn Văn T1 đối với các ông, bà theo quy định pháp luật; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD989932 do Ủy ban nhân dân huyện N2 cấp ngày 18/11/2010 cho ông Nguyễn Văn T1 đối với thửa đất số 55a, tờ bản đồ số 01, diện tích 555m2 tại Thôn 1, xã N1, huyện N2, tỉnh T; và chia thừa kế đối với toàn bộ diện tích đất 1.471m2 có nguồn gốc của cụ Phạm Thị Ng để lại tại các thửa đất số 55 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Phạm Thị Ng và 55a được tách từ thửa đất có nguồn gốc của cụ Ngoan cho ông Nguyễn Văn T1, cùng tờ bản đồ số 01 tại Thôn 1, xã N1, huyện N2, tỉnh T theo quy định pháp luật. Tòa án nhân dân huyện N2 đã ban hành Thông báo thụ lý, giải quyết đối với yêu cầu phản tố của bị đơn theo quy định tại Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ngày 25/9/2024, Tòa án nhân dân huyện N2 căn cứ khoản 4 Điều 32 Luật tố tụng hành chính và Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự, ban hành quyết định chuyển hồ sơ vụ án đến Tòa án nhân dân tỉnh T. Ngày 01/10/2024, Tòa án nhân dân tỉnh T ban hành Thông báo thụ lý, giải quyết vụ án.

Ngày 21/10/2024, Tòa án nhân dân tỉnh T nhận được đơn xin rút toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện đề ngày 18/10/2024 của ông Nguyễn Văn T1 (thư gửi qua đường bưu điện).

Ngày 24/10/2024, Tòa án nhân dân tỉnh T căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 168/2024/QĐST-DS, với lý do người khởi kiện rút đơn khởi kiện. Hội đồng phúc thẩm thấy rằng: Trong vụ án này, nguyên đơn ông Nguyễn Văn T1 rút toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện chia thừa kế đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 01, diện tích 916m2 (đất ở) tại Thôn 1, xã N1, huyện N2, tỉnh T. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn gồm các ông, bà Nguyễn Huy T3, Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị Y đều có yêu cầu phản tố đề nghị chia thừa kế đối với thửa đất số 55, tờ bản đồ số 01, diện tích 916m2 (đất ở) mang tên cụ Phạm Thị Ng và thửa đất số 55a, tờ bản đồ số 01, diện tích 555m2 (đất ở) mang tên ông Nguyễn Văn T1; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD989932 do Ủy ban nhân dân huyện N2 cấp ngày 18/11/2010 cho ông Nguyễn Văn T1. Các ông, bà Nguyễn Huy T3, Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị Y khẳng định không rút đơn phản tố. Như vậy, việc Tòa án nhân dân tỉnh T căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự để đình chỉ giải quyết vụ án là không chính xác. Lẽ ra trong trường hợp này, Tòa án nhân dân tỉnh T cần căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự để ra quyết định đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và thông báo thụ lý vụ án, xác định lại tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, trong đó: Bị đơn trở thành nguyên đơn, nguyên đơn trở thành bị đơn, để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Do đó, có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các ông, bà Nguyễn Huy T3, Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị Y và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên họp về việc hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 168/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh T. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh T để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về án phí: Do kháng cáo được chấp nhận nên các ông, bà Nguyễn Huy T3, Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị Y không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Chấp nhận kháng cáo của bị đơn là các ông, bà Nguyễn Huy T3, Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị Y; hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 168/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh T. Giao hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh T để tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí: Các ông, bà Nguyễn Huy T3, Nguyễn Văn N và Nguyễn Thị Y không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ