vanban.org

Quyết định 137/2021/QĐHG-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải là anh Đỗ Đăng M và chị Bùi Thị H.

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên đương sự cụ thể như sau: Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Đăng M và chị Bùi Thu H thuận tình ly hôn. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "minh hằng"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải là anh Đỗ Đăng M và chị Bùi Thị H.
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN T
Số: 137/2021/QĐHG-HNGĐ
T, ngày 23 tháng 7 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thẩm phán ra quyết định: Bà Lê Thị Sự.

Căn cứ vào Điều 55, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và Điều 36 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 07 tháng 7 năm 2021, về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ việc xin ly hôn giữa:

Người yêu cầu: Anh Đỗ Đăng M, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn 1, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng và chị Bùi Thu H, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn A2, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng.

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án.

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào có ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải là anh Đỗ Đăng M và chị Bùi Thị H.

2. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên đương sự cụ thể như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Đỗ Đăng M và chị Bùi Thu H thuận tình ly hôn.

Về con chung: Anh Đỗ Đăng M và chị Bùi Thu H thống nhất thỏa thuận: Chị Bùi Thu H trực tiếp nuôi con chung tên Đỗ Bùi Hà Thanh, sinh ngày 11/5/2019 cho đến khi con đủ 18 tuổi và có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm và chăm sóc con chung mà không ai được ngăn cản.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Đỗ Đăng M và chị Bùi Thu H thống nhất thỏa thuận: Anh Đỗ Đăng M cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị H mỗi tháng 2.000.000 (Hai triệu) đồng kể từ tháng 08/2021 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi quyết định có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu của chị Bùi Thu H (người được thi hành án) đối với khoản tiền cấp dưỡng nuôi con chung, nếu anh Đỗ Đăng M (bên thi hành án) chưa thi hành xong khoản tiền phải thi hành thì anh Đỗ Đăng M còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Về tài sản chung: Anh Đỗ Đăng M và chị Bùi Thu H không yêu cầu Tòa án giải quyết khi ly hôn.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

4. Các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.

5. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ