vanban.org

Quyết định 136/2024/QĐ-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 25/03/2024 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 25/03/2024 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là ông Quan Gia T;

Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 1639/2023/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "QUAN GIA T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là ông Quan Gia T;
  • Căn cứ chính? Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 136/2024/QĐ-PTTP. Hồ Chí Minh, ngày 25 tháng 3 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO

ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Văn Minh

Các Thẩm phán:

Ông Phan Nhựt Bình

Bà Hồ Thị Thanh Thúy

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Phượng – Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số

1639/2023/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217, khoản 3 Điều 218, Điều 219 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quyết định đình chỉ giải quyết đối vụ án dân sự về việc “Tranh chấp lối đi chung”, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Quan Gia T, sinh năm 1963;

Địa chỉ: B T, phường P, quận T, T1 phô Hô Chí M.

Người đại diẹn hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phan Trung H, sinh năm

1970;

Địa chỉ: C N, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn:

1. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1957;

Địa chỉ: B T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của ông B: Bà Hà Thị T2, sinh năm 1971; Địa

chỉ: 48 đường số 10, khu phố 4, phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

2. Ông Phạm Quốc Đ;

Địa chỉ: B T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Trương Kim Ê, sinh năm 1961;

Địa chỉ: B T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bà Hà Mạnh N, sinh năm 1968;

Địa chỉ: B T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh

3. Ủy ban nhân dân quận T, Thành phố Hồ Chí Minh;

Trụ sở: G T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Bà Trần Thị Thanh T3, bà Đoàn Thị Kim H1;

Địa chỉ liên hệ: Số G T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 05/10/2023, nguyên đơn là ông Quan Gia T

yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy Quyết định số 1639/2023/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh

tham gia phiên họp phát biểu quan điểm giải quyết vụ việc: Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết vụ án với lý do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa Á là không đúng quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Do đó, đề nghị Hội đồng phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, hủy toàn bộ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục giải quyết vụ án.

XÉT THẤY:

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn ông Quan Gia T khởi kiện yêu cầu

tranh chấp lối đi chung phía trước của nhà số B, 210 và B T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh với hộ ông Phạm Quốc Đ và ông Nguyễn Văn B và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BĐ 532149 ngày 21/7/2011 do UBND quận T cấp cho bà Trương Kim Ê (nay là nhà ông Phạm Quốc Đ) và Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 3233/2004 ngày 24/5/2004 của UBND quận T cấp cho ông Nguyễn Văn B và bà Hà Thị N1.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định cho rằng phần đất tranh chấp là hè phố

nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp lối đi chung không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, còn yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở không liên quan đến vụ án nên đình chỉ giải quyết toàn bộ vụ án là chưa đảm bảo quy định pháp luật vì yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở phát sinh từ yêu cầu tranh chấp lối đi, đây là yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt có liên quan đến vụ án theo quy định tại Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong trường hợp đình chỉ giải quyết yêu cầu về dân sự thì Tòa án phải làm thủ tục chuyển vụ án đối với yêu cầu hủy quyết định cá biệt cho Tòa án có thẩm quyền theo quy định tại Điều 41 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm lại đình chỉ đối với yêu cầu này là chưa đảm bảo quyền lợi của đương sự.

Mặt khác, theo Bản đồ hiện trạng vị trí áp ranh do Trung tâm đo đạc

bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H lập ngày 16/8/2023 thì phần đất tranh chấp là mặt tiền và lối ra vào nhà của nguyên đơn và các hộ liền kề nên có cơ sở xác định đây là lối đi chung của 3 căn nhà số B, 210 và B T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại Điều 202, 203 Luật Đất đai quy định về thẩm quyền giải quyết tranh chấp lối đi chung như sau: Đối với tranh chấp lối đi chung không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật Đất đai 2013 thì cơ quan có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân hoặc yêu cầu Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền giải quyết; Đối với trường hợp tranh chấp lối đi chung có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các giấy tờ tại Điều 100 Luật Đất đai 2013, thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nhân dân được xác định theo cấp, theo lãnh thổ và theo sự lựa chọn của các bên, được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Ông T, ông Đ và ông B đều đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng

đất. Ông B và ông Đ có hành vi xây dựng hàng rào làm cản trở quyền sử dụng đất của ông T nên theo quy định của Điều 245, Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015, ông T có quyền về yêu cầu lối đi. Hơn nữa, trước khi khởi kiện tại Tòa án, ông T đã có văn bản khiếu nại đến Ủy ban nhân dân quận T. Tại văn bản số 1631/UBND-TCD ngày 14/12/2021 về việc trả lời đơn của ông Quan Gia T, Ủy ban nhân dân quận T đã xác định các căn nhà số B, 210 và 210A Trịnh Đình T4 đều đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nên hướng dẫn các bên khởi kiện ra Tòa án để giải quyết. Như vậy, việc ông T khởi kiện tại Tòa án là đúng quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng phần đất tranh chấp là vỉa hè nên yêu cầu khởi kiện của ông T không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là không đúng, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự vì việc xác định phần đất tranh chấp có phải vỉa hè hay không là căn cứ để chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không phải căn cứ để đình chỉ giải quyết vụ án.

Từ những phân tích trên, Hội đồng phúc thẩm chấp nhận kháng cáo

của nguyên đơn, hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 1639/2023/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp là có căn cứ chấp nhận.

Án phí dân sư phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo được chấp nhận nên

nguyên đơn không phải chịu, theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

Căn cứ vào Điều 314 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015,

QUYẾT ĐỊNH:

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn là ông Quan Gia T;

Tuyên xử:

1. Hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số

1639/2023/QĐST-DS ngày 08 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Quan Gia T không phải chịu. Hoàn trả

cho ông Quan Gia T số tiền 3000.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0002438 ngày 05/10/2023 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra Quyết định./.

Cỡ chữ