- Tranh chấp gì? "quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S, địa chỉ: Số 80, đường Hồ Nước Ngọt, khóm 2, phường 5, thành phố S đối với:
- Căn cứ chính? Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S TỈNH S | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 133A/QĐ-TA | S, ngày 25 tháng 9 năm 2019 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ S, TỈNH S
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán chủ trì phiên họp: Ông Nguyễn Quốc Định.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thu Hồng.
Ngày 25 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố S, tỉnh S tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 02/QĐ-TA ngày 18 tháng 9 năm 2019, đối với:
Họ và tên: Nguyễn Thanh P; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có.
Sinh năm: 1996.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 5/12.
Nguyên quán: thị trấn M, huyện M, tỉnh S.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, thị trấn M, huyện M, tỉnh S.
Chỗ ở hiện nay: Sống lang thang
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Con ông Nguyễn Văn T và bà Tạ Kim L.
Ông Nguyễn Thanh P có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đặng Hoàng Khang– Chuyên viên phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố S, tỉnh S theo Giấy ủy quyền đề ngày 25/9/2019.
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S tham gia phiên họp: Bà Lê Mỹ Hạnh, kiểm sát viên.
3. Những người khác:
- Đại diện công an phường 9, thành phố S: Ông Ung Thanh Tòng – Cán bộ công an phường 9, thành phố S (theo văn bản ủy quyền đề ngày 25/9/2019).
NHẬN THẤY:
Người bị đề nghị ông Nguyễn Thanh P là người đã đủ 18 tuổi. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc ông Nguyễn Thanh P sử dụng trái phép chất ma túy lần đầu tháng 03/2019, loại ma túy là ma túy đá, hình thức sử dụng là hút và bị cơ quan công an xử lý về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Đến ngày 23/8/2019, Công an phường 9, thành phố Snghi vấn ông Nguyễn Thanh P sử dụng trái phép chất ma túy nên mời về trụ sở làm việc. Tại Biên bản làm việc ông P thừa nhận vào ngày 16/8/2019, ông P sử dụng trái phép chất ma túy tại hẻm 471, đường N, khóm B, phường C, thành phố S, tỉnh S, bằng hình thức hút, loại ma túy sử dụng là Methamphetamin (thường gọi là ma túy đá). Sau đó, công an Phường 9, thành phố S lập biên bản vi phạm hành chính số 001112/BBVPHC ngày 23/8/2019 và đưa ông Nguyễn Thanh P vào Trạm y tế phường 9, thành phố S, tỉnh S để xác định tình trạng nghiện ma túy. Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 23/8/2019 của Trạm y tế phường 9, thành phố S, tỉnh S xác định ông Nguyễn Thanh P có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Methamphetamin.
Hiện nay, ông Nguyễn Thanh P đang được giao cho Cơ sở cai nghiệm ma túy tỉnh S quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S, địa chỉ: Số 80, đường Hồ Nước Ngọt, khóm 2, phường 5, thành phố S theo Quyết định số 160/QĐ-UBND ngày 23/8/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 9, thành phố S, tỉnh S.
Ngày 03/9/2019, Phòng tư pháp thành phố S ban hành Thông báo số 180/TB-PTP về kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Thanh P.
Tại phiên họp, ông Đặng Hoàng Khang người đại diện theo ủy quyền của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố S, tỉnh S trình bày:
Ông Nguyễn Thanh P là người đã đủ 18 tuổi, nghiện ma túy. Sau khi bị phát hiện, ông P đã tự nguyện khai báo và thành thật hối lỗi. Căn cứ điểm 3 khoản 1; điểm 2, khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013, khoản 2 Điều 9, Điều 95 và 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh S đề nghị Tòa án nhân dân thành phố S xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện tỉnh S, địa chỉ: Số 80, đường Hồ Nước Ngọt, khóm 2, phường 5, thành phố S đối với ông Nguyễn Thanh P thời gian là 18 tháng nhưng sau khi vi phạm cũng như tại phiên họp ông P đã tự nguyện khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm, thành thật hối lỗi.
Tại phiên họp, người bị đề nghị là ông Nguyễn Thanh P đã thừa nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ông P xin thời gian chữa bệnh ngắn để sớm hòa nhập cộng đồng.
Tại phiên họp, ông Ung Thanh Tòng người đại diện theo ủy quyền Công an Phường 9, thành phố S trình bày: Thống nhất với đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố S.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S, tỉnh S phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như sau: Từ khi thụ lý đến phiên họp hôm nay, thẩm phán được phân công giải quyết đã Phong hành các thủ tục đúng quy định của pháp luật, trường hợp của ông Nguyễn Thanh P đủ điều kiện để áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó, đề nghị Tòa án nhân dân thành phố S xem xét chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố S, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Thanh P thời gian là 18 (mười tám) tháng.
XÉT THẤY:
Về thủ tục tố tụng:
Xét thấy tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị thấy rằng: Hồ sơ đầy đủ bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh nghiện ma túy của ông Nguyễn Thanh P; Bản tường trình của người nghiện ma túy; Hồ sơ được phòng tư pháp thành phố S, tỉnh S kiểm tra tính pháp lý; Văn bản về việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh S.
Như vây, đối với hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Thanh P đã đầy đủ tính pháp lý, đảm bảo theo quy định tại Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Về nội dung:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên họp cũng như ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố S, nhận thấy:
Ông Nguyễn Thanh P có đủ nhận thức để biết được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng, làm hủy hoại đến sức khỏe con người và là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội nhưng vẫn sử dụng ma túy. Theo hồ sơ, cũng như lời trình bày tại phiên họp, ngày 23/8/2019, Công an Phường 9, thành phố S nghi vấn ông Nguyễn Thanh P sử dụng trái phép chất ma túy nên mời về trụ sở làm việc. Tạị biên bản làm việc cũng nhưn tại phiên họp hôm nay ông Pthừa nhận vào ngày 16/8/2019 ông P sử dụng trái phép chất ma túy tại hẻm 471, đường Nguyễn Huệ, khóm 4, phường 9, thành phố S, tỉnh S, bằng hình thức hút, loại ma túy sử dụng là Methamphetamin (thường gọi là ma túy đá).
Với hành vi của ông Nguyễn Thanh P, Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh S đề nghị Tòa án nhân dân thành phố S xem xét ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện tỉnh S, địa chỉ: Số 80, đường Hồ Nước Ngọt, khóm 2, phường 5, thành phố S, tỉnh S đối với ông Nguyễn Thanh P để được cai nghiện bắt buộc với thời gian là 18 (Mười tám) tháng theo quy định tại Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét thấy, ông Nguyễn Thanh P là người nghiện ma túy đã đủ 18 tuổi trở lên hành vi vi phạm của ông Nguyễn Thanh P thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm 3 khoản 1, điểm 2 khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 và Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính nên đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh S là có căn cứ nên được Tòa án chấp nhận.
Xét về nhân thân của người bị đề nghị ông Nguyễn Thanh P không có tiền án, tiền sự không. Sau khi vi phạm người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính nên xem đây là tình tiết giảm nhẹ đối với ông Nguyễn Thanh P.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 2, Điều 9, Điều 95, 96, 103, khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm Hành chính;
Áp dụng Điều 3, Điều 22 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;
Áp dụng điểm 3 khoản 1, điểm 2 khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S, địa chỉ: Số 80, đường Hồ Nước Ngọt, khóm 2, phường 5, thành phố S đối với:
Họ và tên: Nguyễn Thanh P; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có.
Sinh năm: 1996.
Dân tộc: Kinh.
Tôn giáo: Không.
Trình độ văn hóa: 5/12.
Nguyên quán: thị trấn M, huyện M, tỉnh S.
Nơi đăng ký thường trú: Ấp T, thị trấn M, huyện M, tỉnh S.
Chỗ ở hiện nay: Sống lang thang
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Con ông Nguyễn Văn T và bà Tạ Kim L.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị đề nghị có quyền khiếu nại Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định; Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố S, tỉnh S chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh S thi hành Quyết định này.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Người bị áp dụng; - Trưởng Công an TPS; - Trưởng Phòng LĐ-TB-XH; - UBND Phường 9; TPS - VKSND - TPS; - Toà án ND TST - Lưu. | Nguyễn Quốc Định |