- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất — án dân sự — "Nguyên đơn: Anh Nguyễn Kỳ L; Địa chỉ: Số 55 đường N, khu phố Y, phường Y1, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; Chị Nguyễn Hương Dạ Q; Địa chỉ: Số 2…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Kỳ L, hủy Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2023/QĐST-TĐC ngày 02/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Căn cứ chính? Điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định tạm đình chỉ giải; Điều 215 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định tạm đình chỉ giải; Điều 219 Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định tạm đình chỉ giải
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 130/2023/QĐ-PT | Đà Nẵng, ngày 24 tháng 5 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH TẠM ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp ông Nguyễn Văn Tiến
Các Thẩm phán:
ông Vũ Thanh Liêm
ông Đặng Kim Nhân
Tại Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2023/QĐST-TĐC ngày 02/3 /2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị đã căn cứ vào Điều 214, 215, 219 và Điều 259 của Bộ luật tố tụng dân sự Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự về việc “Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất vô hiệu”, giữa:
- Nguyên đơn:
+ Anh Nguyễn Kỳ L; Địa chỉ: Số 55 đường N, khu phố Y, phường Y1, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
+ Chị Nguyễn Hương Dạ Q; Địa chỉ: Số 237/11/39 đường N1, phường Y2, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: bà Lưu Thị Diệu L1; Địa chỉ: Khu phố Y3, phường Y4, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
Tại đơn kháng cáo ngày 10/4/2023, của anh Nguyễn Kỳ L kháng cáo với lý do: việc tạm đình chỉ giải quyết vụ án là không có căn cứ theo quy định tại Điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự.
XÉT THẤY:
. Căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án thì thấy: Vụ án dân sự về việc “Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất vô hiệu” được Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị thụ lý ngày 04/5/2022; ngày 26/9/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị ban hành Quyết định số 01/2022/QĐST-TĐC tạm đình chỉ giải quyết vụ án vì xét thấy có dấu hiệu tội phạm trong vụ án; ngày 27/12/2022, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị ban hành Quyết định số 42/2022/QĐXX-DSST đưa vụ án ra xét xử; ngày 02/3/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị ban hành Quyết định số 02/2023/QĐST-TĐC tạm đình chỉ giải quyết vụ án để tiến hành giám định theo yêu cầu của bị đơn (sau đây viết tắt là QĐ số 02). Xét QĐ số 02 thì thấy:
. Về tố tụng: QĐ số 02 không có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng với những người tham gia tố tụng được xác định trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2022/QĐXX-DSST ngày 27/12/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị, làm ảnh hướng đến quyền kháng cáo của đương sự là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 418/HĐCN ghi ngày 18/7/2006 giữa bên chuyển nhượng là anh Nguyễn Kỳ L và chị Nguyễn Hương Dạ Q (nguyên đơn) với bên nhận chuyển nhượng là bà Lưu Thị Diệu L1 (bị đơn) đã được Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị trưng cầu giám định chữ ký và chữ viết của anh Nguyễn Kỳ L và chị Nguyễn Hương Dạ Q tại Quyết định trưng cầu giám định số 01/2021/QĐ-TCGĐ ngày 14/01/2021 và đã có kết quả giám định tại Công văn số 10/PC09 ngày 29/01/2021 của Công an tỉnh Quảng Trị; nội dung này cũng đã được ghi nhận trong Bản án hành chính phúc thẩm số 244/2021/HCPT ngày 24/11/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng, là chứng cứ không phải chứng minh theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự.
. Bà Lưu Thị Diệu L1 cũng thừa nhận đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất số 05, tờ bản đồ số 21, GCNQSD đất số Đ 622223 do UBND thị xã Đ cấp ngày 15/7/2004 cho anh Nguyễn Kỳ L và chị Nguyễn Hương Dạ Q theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 418/HĐCN ghi ngày 18/7/2006 được UBND phường 5 chứng thực (nội dung này cũng được ghi nhận trong Bản án hành chính phúc thẩm số 244/2021/HCPT ngày 24/11/2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng), nên việc bà Liên yêu cầu giám định lại để xác định ai là người thực sự mua, bán thửa đất số 05, tờ bản đồ số 21, GCNQSD đất số Đ 622223 do UBND thị xã Đ cấp ngày 15/7/2004 cho anh Nguyễn Kỳ L và chị Nguyễn Hương Dạ Q là không có căn cứ, mâu thuẫn với các nội dung đã nêu trên. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà Liên, tạm đình chỉ giải quyết vụ án để tiến hành giám định theo yêu cầu của bị đơn là không đúng quy định tại Điều 214 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng cũng đề nghị Hội đồng phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Kỳ L, hủy Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2023/QĐST-TĐC ngày 02/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
[3] Về án phí: kháng cáo được chấp nhận nên anh Nguyễn Kỳ L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 3 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào Điều 314 của Bộ luật tố tụng dân sự;
QUYẾT ĐỊNH
1. Chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Kỳ L, hủy Quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm số 02/2023/QĐST-TĐC ngày 02/3/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
2. Về án phí: anh Nguyễn Kỳ L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả lại cho anh Nguyễn Kỳ L 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000247 ngày 23/3/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Trị.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng; - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND tỉnh Quảng Trị; - Cục THADS tỉnh Quảng Trị; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, án văn, lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG PHIÊN HỌP PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Văn Tiến |