vanban.org

Quyết định 130/2018/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Vương Thị H - Phan Văn C"
  • Tòa quyết gì? SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
  • Căn cứ chính? Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 130/2018/QĐST-VDSThủ Dầu Môt, ngày 19 tháng 11 năm 2018

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ T, TỈNH BÌNH DƯƠNG.

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Huỳnh Thị Thanh Tuyền - Thẩm phán.

Thư ký phiên họp: Bà Hồ Thị Hằng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố T

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố T tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố T, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 52/2018/TLST-VDS ngày 06 tháng 6 năm 2018 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 15/2018/QĐST- VDS ngày 14/11/2018, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Vương Thị H, sinh năm 1937; địa chỉ: phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương; có đơn xin giải quyết vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Phan Văn C, sinh năm 1934; địa chỉ: Xã P, thị xã T, tỉnh Sông Bé (phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương); vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

* Trong đơn yêu cầu ngày 19/4/2018, người yêu cầu giải quyết việc dân sự bà Vương Thị H trình bày:

Nguyên từ năm 1956 đến năm 1982, gia đình bà H gồm có bà H, chồng bà là ông Phan Văn C và các con của bà H, ông C sinh sống với nhau tại địa chỉ khu phố 5, xã P, thị xã T, tỉnh Sông Bé (Nay là phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương). Đến tháng 11/1982, do mâu thuẫn trong gia đình nên ông C đã đốt cháy nhà, sau đó bà H sửa chữa lại nhà và gia đình tiếp tục sinh sống tại địa chỉ trên. Đến năm 1985, không biết vì lý do gì ông C đã bỏ nhà đi 03 tháng sau đó trở về được 07 ngày lại tiếp tục bỏ nhà đi và biệt tích cho đến nay không trở về và gia đình không có tin tức ông C hiện còn sống hay đã chết. Do khi còn chung sống, ông C bị bệnh suyễn cấp tính nên bà H không có thông tin xác thực ông C còn sống hay không. Nay bà H có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phan Văn C là đã chết.

Tại phiên họp, bà Vương Thị H có đơn xin giải quyết vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố T thụ lý việc dân sự là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại các điều 367, 369, 392 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Căn cứ vào Điều 71 của Bộ luật dân sự đề nghị chủ tọa phiên họp chấp nhận yêu cầu của bà Vương Thị H về việc tuyên bố ông Phan Văn C, sinh năm 1934; nơi cư trú cuối cùng: Khu phố 5, xã P, thị xã T, tỉnh Sông Bé (Nay là khu 5, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương) là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố T nhận định:

Về tố tụng: Người yêu cầu bà Vương Thị H có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt. Do vậy, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bà H theo quy định tại Điều 367 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Theo đơn yêu cầu ngày 19/4/2018 bà Vương Thị H trình bày: Từ năm 1956 đến năm 1982, gia đình bà H gồm có bà H, chồng bà là ông Phan Văn C và các con của bà H, ông C sinh sống với nhau tại địa chỉ số N, khu phố 5, xã P, thị xã T, tỉnh Sông Bé (Nay là khu 5, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương). Đến tháng 11/1982, do mâu thuẫn trong gia đình nên ông C đã đốt cháy nhà, sau đó bà H sửa chữa lại nhà và gia đình tiếp tục sinh sống tại địa chỉ trên. Đến năm 1985, không biết vì lý do ông C đã bỏ nhà đi 03 tháng sau đó lại trở về được 07 ngày lại tiếp tục bỏ nhà đi biệt tích cho đến nay không trở về, gia đình không có tin tức ông C hiện còn sống hay đã chết. Do khi còn chung sống, ông C bị bệnh suyễn cấp tính nên bà H không có thông tin xác thực ông C còn sống hay không. Do vậy, bà H có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phan Văn C là đã chết.

Xét thấy: Sau khi thụ lý việc dân sự, Toà án đã có quyết định số 03/QĐ-VDS ngày 20/6/2018 thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Phan Văn C, sinh năm 1934; nơi cư trú cuối cùng: Xã P, thị xã T, tỉnh Sông Bé (Nay là khu 5, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương) trên các phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương. Đăng trên báo Công lý 03 kỳ liên tiếp vào các ngày 13, 18 và 20 tháng 7 năm 2018 và phát sóng trên kênh VTV9 Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Thành Phố Hồ Chí Minh trong 03 ngày liên tiếp nhưng đến nay ông C không đến Toà án làm việc theo thông báo, bà Vương Thị H cũng không có thông tin nào khác về tung tích của ông C.

Xét đơn xác nhận mà bà H đã nộp kèm theo đơn yêu cầu được Công an phường P xác nhận với nội dung: “Từ năm 1985 đến nay, ông Phan Văn C không còn sinh sống tại xã P, thị xã T, tỉnh Sông Bé (Nay là khu 5, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương) như trình bày là đúng” nên có căn cứ xác định ông Phan Văn C đã biệt tích hơn 05 năm liền và không có tin tức xác thực là còn sống từ năm 1985 cho đến nay. Do vậy, bà H yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phan Văn C đã chết là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 391 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 71 của Bộ luật dân sự nên Tòa án chấp nhận.

Bà H không xác định cụ thể ngày ông Phan Văn C bỏ đi là ngày nào, căn cứ theo đơn của bà H được Công an phường P xác nhận trên thì có cơ sở xác định ông Phan Văn C đã bỏ nhà đi biệt tích từ năm 1985. Do vậy, ngày ông Phan Văn C chết được xác định là ngày 01/01/1985 theo quy định tại khoản 1 Điều 68 và khoản 1 Điều 71 của Bộ luật dân sự.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp là phù hợp nên Tòa chấp nhận.

Về chi phí tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú trên các phương tiện thông tin đại chúng: Bà Vương Thị H phải chịu số tiền là 2.250.000 đồng, được trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp trước đây tại Tòa án.

Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Do bà Vương Thị H có đơn xin miễn lệ phí vì thuộc đối tượng người cao tuổi nên bà H được miễn toàn bộ lệ phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ÐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, các điều 184; 367, 369, 370, 371, 383, 384, 385, 391, 392 và Điều 393 của Bộ luật tố tụng Dân sự;

- Căn cứ vào các điều 68, 71 và Điều 72 của Bộ luật dân sự;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Vương Thị H về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết”.

- Tuyên bố ông Phan Văn C, sinh năm 1934; nơi cư trú cuối cùng: Xã P, thị xã T, tỉnh Sông Bé (Nay là khu 5, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương) là đã chết vào ngày 01/01/1985.

- Quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của ông Phan Văn C được giải quyết như đối với người đã chết theo quy định của pháp luật.

2. Về chi phí thông báo tìm người vắng mặt tại nơi cư trú: Bà Vương Thị H phải chịu số tiền là 2.250.000 đồng, được trừ hết vào tiền tạm ứng đã nộp trước đây tại Tòa án.

3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Vương Thị H được miễn toàn bộ lệ phí.

4. Quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết việc dân sự có mặt được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Trường hợp vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết công khai.

Cỡ chữ