- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "NGUYEN THI L - TRAN QUOC T"
- Tòa quyết gì? Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 22 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 13/2020/QĐST-VDS Thủ Dầu Một, ngày 24 tháng 7 năm 2020 | Số: 13/2020/QĐST-VDS Thủ Dầu Một, ngày 24 tháng 7 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp: Bà Vũ Thị Nga. Thư ký phiên họp: Bà Châu Thị Hoài Phương – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên. Ngày 24 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 13/2020/TLST-VDS ngày 18 tháng 5 năm 2020 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 13/2020/QĐST-DS ngày 09 tháng 7 năm 2020, giữa: - Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1942; địa chỉ: Số A, Đại lộ B, Tổ Y, Khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có mặt; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Quốc T, sinh năm 1981; địa chỉ: Số A, Đại lộ B, Tổ Y, Khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt. NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ: Theo đơn yêu cầu đề ngày 29/4/2020 và tại phiên họp, bà Nguyễn Thị L là người yêu cầu giải quyết việc dân sự trình bày: Bà Nguyễn Thị L là mẹ ruột ông Trần Quốc T, sinh năm 1981; địa chỉ: Số A, Đại lộ B, Tổ Y, Khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Khoảng năm 2002, ông Trần Quốc T có những triệu chứng rối loạn thần kinh, không kiểm soát được hành vi. Tháng 7 năm 2002, gia đình có đưa ông T đến Bệnh viện tâm thần tại Biên Hòa để điều trị nhưng bệnh tình không giảm nên gia đình đã đưa ông T về nhà để chăm sóc và điều trị tại nhà. Hiện nay ông T không có khả năng nhận thức, điều khiển hành vi và không thực hiện được các quyền lợi của mình, để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của ông T theo quy định của pháp luật, bà Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Quốc T mất năng lực hành vi dân sự và cử bà Nguyễn Thị L làm người giám hộ cho ông T.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham dự phiên họp: Về tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một đã thực hiện việc thụ lý và giải quyết đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Quá trình giải quyết và tại phiên họp, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định tại các điều 369, 377 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Về nội dung: Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần số 325/KL-VPYTW ngày 29/6/2020 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa, kết luận ông Trần Quốc T bị bệnh chậm phát triển tâm thần nặng (F72-ICD.10), về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Căn cứ Điều 22 của Bộ luật dân sự năm 2015, yêu cầu của bà Nguyễn Thị L là có căn cứ. Vì vậy, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L về việc tuyên bố ông Trần Quốc T mất năng lực hành vi dân sự; Căn cứ theo Khoảng 3 Điều 53 Bộ luật dân sự năm 2015, bà Nguyễn Thị L là người giám hộ đương nhiên cho ông Trần Quốc T. Đề nghị Tòa án chỉ định bà Nguyễn Thị L là người giám hộ cho ông Trần Quốc T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một nhận định: [1] Về tố tụng: Bà Nguyễn Thị L yêu cầu tuyên bố ông Trần Quốc T mất năng lực hành vi dân sự, đây là loại việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án quy định tại khoản 1 Điều 27 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Ông Trần Quốc T có nơi cư trú tại: Số A, Đại lộ B, Tổ Y, Khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. [2] Bà Nguyễn Thị L yêu cầu tuyên bố ông Trần Quốc T mất năng lực hành vi dân sự. Trong quá trình giải quyết, bà Nguyễn Thị L có đơn yêu cầu giám định sức khỏe tâm thần của ông T. Trên cơ sở đơn yêu cầu của bà L, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một ra Quyết định trưng cầu giám định số 13/2020/QĐ-TCGĐ ngày 25/5/2020 trưng cầu Viện pháp y Tâm thần Trung ương Biên Hòa thực hiện việc giám định về sức khỏe của ông Trần Quốc T. Tại Kết luận giám định pháp y tâm thần số 325/KL-VPYTW ngày 29/6/2020 của Viện pháp y tâm thần Trung ương Biên Hòa, kết luận ông Trần Quốc T bị bệnh chậm phát triển tâm thần nặng (F72-ICD.10), về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi: Mất năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Căn cứ theo Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015, việc bà Nguyễn Thị L yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Trần Quốc T mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ. [3] Bà Nguyễn Thị L yêu cầu chỉ định bà L là người giám hộ cho ông Trần Quốc T. Xét thấy tại Khoản 3 Điều 53 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ”. Qua xác minh tại UBND phường Định Hòa và các tài liệu chứng cứ do người yêu cầu cung cấp thể hiện ông Trần Quốc T chưa có vợ, con; cha của ông T là
ông Trần Văn N đã chết năm 2017. Hiện nay ông T đang sống cùng mẹ ruột là bà Nguyễn Thị L. Do đó, bà Nguyễn Thị L là người giám hộ đương nhiên cho ông Trần Quốc T. [4] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên họp về tố tụng và quan điểm giải quyết việc dân sự là có cơ sở nên chấp nhận. [5] Về lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị L thuộc trường hợp được miễn lệ phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 149, Điều 370, Điều 372, Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; - Điều 22, 53 và Điều 54 Bộ luật Dân sự năm 2015; - Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 1. Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L. Tuyên bố ông Trần Quốc T, sinh năm 1981; địa chỉ: Số A, Đại lộ B, Tổ Y, Khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương mất năng lực hành vi dân sự. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1942; địa chỉ: Số A, Đại lộ B, Tổ Y, Khu phố X, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương là người giám hộ cho ông Trần Quốc T. 2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị L thuộc trường hợp được miễn lệ phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt tại phiên họp được quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc từ ngày quyết định được niêm yết theo luật định./.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; CHỦ TỌA PHIÊN HỌP - VKSND Tp. Thủ Dầu Một; - Chi cục THADS Tp. Thủ Dầu Một; - Đương sự; - UBND phường Đ ; - Lưu: Hồ sơ. | THẨM PHÁN Vũ Thị Nga |