vanban.org

Quyết định 13/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

105, Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? 105, Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 110 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 13/QĐ-TAT, ngày 15 tháng 10 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN - TỈNH BẮC GIANG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Bùi Tư Duy

2. Thư ký phiên họp: Bà Vi Thị Lan Phương

Ngày 15 tháng 10 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Bắc

Giang tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 11/QĐ-TA ngày 12/10/2021 đối với:

Họ và tên: Nguyễn Văn T

Giới tính: Nam

Sinh ngày 21/02/1982

CMND số 121458147 Ngày cấp: 28/12/2017 Nơi cấp: CA tỉnh Bắc Giang

Dân tộc: Kinh

Tôn giáo: Không

Trình độ văn hóa: 7/12

Hộ khẩu thường trú và nơi ở: Thôn Ng, xã Ng, huyện T, tỉnh Bắc Giang.

Nghề nghiệp: Làm ruộng

Tiền án, tiền sự: Không

Con ông: không rõ

Con bà: Nguyễn Thị Th

Có đơn đề nghị vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện Cơ quan đề nghị: Bà Phạm Thị Th – Chuyên viên Phòng Lao

động - Thương binh và Xã hội huyện T.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T: Bà Nguyễn Thị Huệ - Kiểm

sát viên.

3. Đại diện gia đình anh Nguyễn Văn T:

Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985 (là vợ anh T)

Nơi cư trú: Thôn Ng, xã Ng, huyện T, Bắc Giang.

NHẬN THẤY:

Nguyễn Văn T là người nghiện ma túy từ năm 2017 và đã bị áp dụng biện

pháp giáo dục tại xã Ng theo quyết định số 252/QĐ-UBND ngày 02 tháng 8 năm 2021.

Ngày 29/9/2021, Nguyễn Văn T tiếp tục sử dụng ma túy và đã bị phát

hiện. Kết quả xét nghiệm đã xác định Nguyễn Văn T có sử dụng ma túy tổng hợp. Chủ tịch UBND xã Ng ra quyết định chấm dứt việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã Ng đối với Nguyễn Văn T do trong quá trình chấp hành quyết định, T vẫn tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.

Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện

T tóm tắt hành vi vi phạm, nhân thân của Nguyễn Văn T và đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang trong thời hạn 24 tháng.

Anh Nguyễn Văn T thừa nhận đã sử dụng ma túy từ năm 2017, đã cai

nghiện tại gia đình nhưng không có kết quả, ngày 29/9/2021 T đã sử dụng ma túy tổng hợp. Đối với đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang trong thời hạn 24 tháng, anh T nhất trí. Tại phiên họp, anh T có đơn đề nghị vắng mặt.

Chị Nguyễn Thị L là vợ anh T có mặt tại phiên họp và trình bày: Chị nhất

trí với đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Nguyễn Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang trong thời hạn 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T phát biểu ý kiến về việc tuân

theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Thẩm phán và việc chấp hành của Phòng Lao động, Thương binh và Xã hội huyện T là đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định. Đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 24 tháng đối với Nguyễn Văn T.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai

nghiện bắt buộc đối với Nguyễn Văn T được thiết lập theo đúng trình tự, thủ tục quy định.

Nguyễn Văn T là người đủ 18 tuổi, nghiện ma túy, đã bị áp dụng biện

pháp giáo dục tại UBND xã Ng nhưng trong thời gian chấp hành biện pháp giáo dục tại xã Ng, T tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi sử dụng chất ma túy của Nguyễn Văn T là hành vi vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân anh T và vợ là chị L đều nhất trí với đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh T tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang trong thời hạn 24 tháng. Do vậy, cần đưa Nguyễn Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc để chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc như đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T là phù hợp.

Kiểm sát viên đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt

buộc trong thời hạn 24 tháng đối với Nguyễn Văn T là có căn cứ.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Không có.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96, khoản 2 Điều

105, Điều 110 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Điều 3, Điều 22, 23, 30, 31, 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13

ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Điều 15 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013, khoản 1 Điều 1

Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ;

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt

buộc đối với Nguyễn Văn T.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 tháng, kể từ

ngày Nguyễn Văn T bị tạm giữ để đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bắc Giang.

3. Anh Nguyễn Văn T có quyền khiếu nại quyết định trong thời hạn 03

ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T có quyền kiến nghị,

Viện kiểm sát nhân dân huyện T có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định:

- Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện T;

- Công an huyện T.

Cỡ chữ