- Tranh chấp gì? "Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buọc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H.
- Căn cứ chính? Điều 33 Luật Phòng, chống ma túy; Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HỆN BẢO LÂM TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 13/QĐ -TA | Bảo Lâm, ngày 14 tháng 10 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi
đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HỆN BẢO LÂM, TỈNH CAO BẰNG
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán: Ông Nông Đức Thọ
- Thư ký phiên họp: Bà Hạ Thị Soan
Ngày 14 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 13/QĐ-TA ngày 10 tháng 10 năm 2024 đối với:
Họ và tên: H;
Sinh ngày 26/3/2008;
Số CCCD: 004208002316; ngày cấp: 16/9/2022. Nơi cấp: C06;
Quê quán: xã Đ, huyện H1, tỉnh Cao Bằng.
Nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: xóm N, xã Th, huyện B, tỉnh Cao Bằng.
Nghề nghiệp: Nông dân.
Trình độ học vấn: 07/12.
Con ông K, sinh năm 1971; con bà L, sinh năm 1973.
Người bị đề nghị H vắng mặt không có lý do.
Có sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: Bà X – Chuyên viên Phòng Lao động - Thương binh và xã hội Hện Bảo Lâm, có mặt tại phiên họp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Bảo Lâm: Ông S – Kiểm sát viên, có mặt tại phiên họp.
- Cha, mẹ của người bị đề nghị: Bà H3 (mẹ đẻ), sinh năm 1974; Nơi cư trú: xóm N, xã Th, huyện B, tỉnh Cao Bằng, vắng mặt không có lý do.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị: Ông B3 – Trợ giúp viên pháp lý; Nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Cao Bằng, có mặt tại phiên họp.
NHẬN THẤY:
Vào ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại xóm N, xã Th, huyện B, tỉnh Cao Bằng, Công an xã Th tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với H bằng que thử xét nghiệm định tính Morphine ONE STEP OPIATES cho kết quả: Dương tính với chất ma túy trong cơ thể. Tại đây, H khai nhận bản thân nghiện ma túy, sử dụng ma túy lần đầu vào năm 2023, thường sử dụng ma túy dưới hình thức hút. Đến ngày 23 tháng 9 năm 2024 Công an Th tiến hành xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với H bằng que thử xét nghiệm định tính loại EaSteo cho kết quả: Dương tính, cùng ngày Công an Th đề nghị Trạm y tế Th xác định tình trạng nghiện đối với H. Ngày 26 tháng 9 năm 2024 Trạm Y tế Th trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện của H là “Có nghiện ma túy”.
Công an Th đã thông báo cho Ủy ban nhân dân Th để thông báo cho H và bà H3 - mẹ ruột H biết để H đi đăng ký cai nghiện tự nguyện trong thời hạn 05 ngày nhưng đến ngày 02/10/2024 Công an Th tiến hành xác minh về việc H đã đăng ký cai nghiện tự nguyện tại tổ chức nào chưa, qua xác minh H chưa đăng ký cai nghiện tự nguyện. Do đó, ngày 02/10/2024 H bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Th lập biên bản vi phạm số: 30/BB-VPHC về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc bằng thuốc thay thế về hành vi “Không đăng ký cai nghiện tự nguyện”. Tại bản xác nhận ý kiến cha, mẹ của H ngày 02/10/2024 bà H3 đồng ý áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H. Trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc H được giao cho bà H3 là mẹ đẻ của H quản lý tại gia đình.
Ngày 07/10/2024 Phòng Lao động -Thương binh và xã hội Hện Bảo Lâm đã có Công văn đề nghị số: 517/ĐN-CNBB đề nghị Tòa án nhân dân Hện Bảo Lâm xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng, địa chỉ: Tổ 6, phường Sông Hiến, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Tại phiên họp:
* Đại diện Cơ quan đề nghị: Giữ nguyên yêu cầu đề nghị Tòa án xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H. Thời gian đề nghị đưa vào cơ cở cai nghiện bắt buộc là 09 tháng.
* Người bị đề nghị: H vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến.
*Cha, mẹ của người bị đề nghị: Bà H3 là mẹ ruột của H vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến.
*Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị đề nghị ông Bế Kim Tuấn trình bày: Ngày 23/9/2024 Công an Th phối hợp với Trạm y tế Th xét nghiệm nhanh ma túy đối với H, sinh năm 2008, trú tại: xóm N, xã Th, huyện B, tỉnh Cao Bằng, ngày 26/9/2024 có kết quả “Có nghiện ma túy”. Trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp ngày hôm nay, H là người dưới 18 tuổi mức độ nhận thức chưa đầy đủ, chưa làm chủ được bản thân, bản thân H chưa có tiền án, tiền sự cũng chưa bị xử lý vi phạm hành chính nào khác, do bỏ học từ năm lớp 7/12 hay qua lại với nhóm bạn có nhận thân xấu nên đã sử dụng ma túy. Khi Công an Th tiến hành xét nghiệm cho kết quả dương tính với chất ma túy trong cơ thể H đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lối. Do đó, mong Tòa án xem xét công nhận đây là tình tiết giảm nhẹ cho H theo quy định tại khoản 2, Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính tại Văn bản hợp nhất số 20/VBHN-VPQH, ngày 29/12/2022. Về thời hạn đề nghị áp dụng biện pháp xử lý đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc theo đề nghị của Cơ quan đề nghị 09 tháng là phù hợp để H có cơ hội sửa chữa sai lầm của mình, sớm hòa nhập với cộng đồng, tiến bộ trở thành công dân tốt hơn cho xã hội.
* Đại viện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục: Thời hạn ra quyết định mở phiên họp, mở phiên họp được thực hiện đúng với quy định tại Điều 8 và Điều 17 Pháp lệnh 01/2022/UBTVQH15. Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được lập đầy đủ, đúng quy định tại các Điều 33, 34 Luật Phòng chống ma túy; các Điều 9, 10, 11, 12, 13 và 17 Pháp lệnh 01/2022/UBTVQH15.
- Về nội dung: H là người nghiện ma túy. Ngày 16/9/2024 Công an Th thông báo cho Ủy ban nhân dân Th để thông báo cho H đi đăng ký cai nghiện tự nguyện trong thời hạn 05 ngày nhưng H không thực hiện.
- Nhận thấy, H (sinh ngày 26/3/2008) trên 12 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi. H có nơi cư trú ở xóm N, xã Th, huyện B, tỉnh Cao Bằng, H vi phạm về đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng chống ma tuý, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma tuý và quản lý tài sản sau cai nghiện ma tuý (Nghị định 116). Nên thuộc trường hợp cai nghiện bắt buộc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 33 Luật Phòng chống ma túy.
Từ những phân tích nêu trên, căn cứ điểm c khoản 2 Điều 3, Điều 9, Điều 10 và khoản 2 Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 33, 34 Luật Phòng chống ma túy; khoản 1 Điều 28 Nghị định 116; các Điều 9, 10, 11, 12, 13 và 17 Pháp lệnh 01/2022/UBTVQH15 áp dụng biện pháp đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H với thời hạn cai nghiện là: 09 tháng là hợp lý để H ổn định sức khoẻ, tái hoà nhập cộng đồng.
XÉT THẤY:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc được thẩm tra tại phiên họp Tòa án nhận định:
- Về tố tụng: Người bị đề nghị H, cha, mẹ của H là bà H3 (mẹ đẻ) vắng mặt tại phiên họp không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 01/2022/UBTVQH15, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt người bị đề nghị và cha, mẹ của người bị đề nghị.
- Về nội dung: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với người từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội Hện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng đối với H đã đầy đủ, đúng quy định pháp luật.
- Xét thấy, người bị đề nghị H là người chưa thành niên, nghiện ma túy, không thực hiện biện pháp cai nghiện tự nguyện. Do đó, việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với người từ đủ 12 đến dưới 18 tuổi đối với H theo đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng là cần thiết và phù hợp với quy định tại Điều 33 Luật Phòng chống ma túy; các Điều 51, 52, 53 Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, cần đưa người bị đề nghị H đi cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng, địa chỉ: Tổ 6, phường Sông Hiến, thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
- Về thời hạn áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 3, Điều 9, Điều 10 và khoản 2 Điều 95 của Luật xử lý vi phạm hành chính và khoản 3, Điều 33 Luật phòng chống ma túy. Áp dụng biện pháp đưa H vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 09 tháng là hợp lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 3, điểm d, đ khoản 2 Điều 6, Điều 9, Điều 10, khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính tại Văn bản hợp nhất số: 20/VBHN-VPQH ngày 29/12/2022 của Văn phòng Quốc hội.
Căn cứ vào các Điều 9, 10, 11, 12, 13, 17 và khoản 2 Điều 20; Điều 23; Điều 24; Điều 37 của Pháp lệnh trình tự, thủ tục Tòa án nhân dân xem xét, quyết định áp dụng việc đưa người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 01/2022/UBTVQH15 ngày 24 tháng 3 năm 2022;
Căn cứ các Điều 33 và 34 Luật Phòng, chống ma túy;
Căn cứ khoản 1, Điều 28 và các Điều 51, 52 và 53 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện;
1. Áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với H.
Cơ sở tiếp nhận: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng. Địa chỉ: Tổ 6, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 09 (chín) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Người bị đề nghị H và cha, mẹ của người bị đề nghị có quyền khiếu nại trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng có quyền kháng nghị trong hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng; Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng, Ủy ban nhân dân Th, huyện Bảo Lâm, tỉnh Cao Bằng và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Cao Bằng; - VKSND tỉnh Cao Bằng; - VKSND huyện Bảo Lâm; - Công an huyện Bảo Lâm; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Cao Bằng; - Phòng LĐ-TB&XH huyện Bảo Lâm; - UBND Th; - Người bị đề nghị; - Cha, mẹ của người bị đề nghị; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (Đã ký và đóng dấu) Nông Đức Thọ |