vanban.org

Quyết định 13/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho Anh Nguyễn Văn A được ly hôn chị Nguyễn Thị B.

Về nuôi con chung: Giao cháu Phan Thị Bảo Trâm, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2020 cho anh Nguyễn Văn A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi trưởng thành. Giao cháu Phan Bảo Linh, sinh ngày 08 tháng 6 năm 2024 cho chị Nguyễn Thị B trực trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho Anh Nguyễn Văn A được ly hôn chị Nguyễn Thị B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 5 – NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2025/HNGĐ - ST
Ngày: 29/8/2025
V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ngọc Anh.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Hà Giang và bà Nguyễn Thị Hiền Lương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng An - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 5 – Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2025/TLST- HNGĐ, ngày 12 tháng 6 năm 2025 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST- HNGĐ, ngày 28 tháng 7 năm 2025 và thông báo về việc mở lại phiên toà số 311/TB – TA, ngày 15 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn A, sinh ngày 09 tháng 11 năm 1987; nơi ĐKHKTT: Xóm 3, xã Thanh Phong, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; sau khi sát nhập: xã Đại Đồng, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt (Có đơn xin đề nghị giải quyết và xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh ngày 16 tháng 8 năm 1996 nơi ĐKHKTT: Xóm 3, xã Thanh Phong, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An; sau khi sát nhập: xã Đại Đồng, tỉnh Nghệ An; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và đơn đề nghị xét xử vắng mặt nguyên đơn anh Nguyễn Văn A trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn A kết hôn với Chị Nguyễn Thị B vào ngày 25 tháng 01 năm 2019 trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thanh Phong, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2025 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống. Tình cảm vợ chồng là không còn, anh Nguyễn Văn A đề nghị toà án giải quyết cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị B.

- Về nuôi con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Phan Thị Bảo Trâm, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2020 và Phan Bảo Linh, sinh ngày 08 tháng 6 năm 2024. Nay ly hôn anh Nguyễn Văn A nguyện vọng được nuôi 02 con và không yêu cầu chị Nguyễn Thị B cấp dưỡng nuôi con.

- Về chia tài sản chung và nợ: Anh Nguyễn Văn A không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về phía bị đơn chị Nguyễn Thị B: Trong quá trình thụ lý vụ án cũng như hoà giải mặc dù Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng chị Ngà không đến nên vụ án thuộc trường hợp không hoà giải được nhưng vào ngày 10 tháng 8 năm 2025 chị Nguyễn Thị B đã gửi tờ trình và có ý kiến như sau:

- Về hôn nhân: Anh Nguyễn Văn A xin ly hôn chị không có ý kiến gì, còn về phần nuôi con thì chị không nhất trí để hai cho anh Nguyễn Văn A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Theo ý kiến của chị thì nếu vợ chồng ly hôn thì chị xin trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng Phan Bảo Linh, sinh ngày 08 tháng 6 năm 2024. Để anh Nguyễn Văn A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Phan Thị Bảo Trâm, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2020 và Phan Bảo Linh, sinh ngày 08 tháng 6 năm 2024. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 BLTTDS năm 2015, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, đề xuất:

- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của Anh Nguyễn Văn A với chị Nguyễn Thị B.

- Về con chung: Giao cháu Phan Bảo Trâm cho anh Nguyễn Văn A trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc; giao cháu Phan Bảo Linh cho chị Ngà trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc đến khi các con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng do hai bên đương sự không có yêu cầu. Chị Ngà, anh Nghi có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

Các bên có thể thỏa thuận thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu Tòa án thay đổi nếu người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện nuôi. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: Buộc anh Nguyễn Văn A phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), anh Nghi đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án ngày 12/6/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về tố tụng: Ngày 12 tháng 8 năm 2025 Toà án đã mở phiên toà xét xử vụ án nhưng do bị đơn chị Nguyễn Thị B vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã hoãn phiên toà. Sau khi hoãn phiên toà Toà án đã tống đạt hợp lệ thông báo mở lại phiên toà cho bị đơn. Tại phiên toà hôm nay bị đơn vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn là đúng với quy định tại Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn A và chị Nguyễn Thị B là hợp pháp, được xác lập trên cở sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Thanh Phong, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến đầu năm 2025 thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp. Anh Nguyễn Văn A xin ly hôn thì chị Nguyễn Thị B không có ý kiến gì. Hội đồng xét xử xét thấy về quan hệ hôn nhân giữa anh Nguyễn Văn A và chị Nguyễn Thị B đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó cho anh Nguyễn Văn A được ly hôn chị Nguyễn Thị B là đúng với quy định của pháp luật phù hợp với khoản 1, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về nuôi con chung: Vợ chồng Vợ chồng có 02 con chung là Phan Thị Bảo Trâm, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2020 và Phan Bảo Linh, sinh ngày 08 tháng 6 năm 2024. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn A nguyện vọng trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng hai con, không yêu cầu chị Nguyễn Thị B cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị B nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phan Bảo Linh, để anh Nguyễn Văn A chăm sóc nuôi dưỡng cháu Phan Thị Bảo Trâm. Hội đồng xét xử xét thấy đây là nguyện vọng chính đánh của hai vợ chồng nhưng hiện nay cháu Phan Bảo Linh đang còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi. Do đó, để đảm bảo sự phát triển tâm sinh lý cũng như quyền lợi mọi mặt của con, thì cần giao cháu Phan Bảo Linh cho chị Nguyễn Thị Nga trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Giao cháu Phan Thị Bảo Trâm cho anh Nguyễn Văn A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau là phù hợp quy định của pháp luật.

Về chia tài sản chung và nợ chung: Anh Nguyễn Văn A và chị Nguyễn Thị B không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn A phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Xét thấy ý kiến phát biểu tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa; những người tham gia tố tụng và việc đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng pháp luật để giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án xử:

Về hôn nhân: Cho Anh Nguyễn Văn A được ly hôn chị Nguyễn Thị B.

Về nuôi con chung: Giao cháu Phan Thị Bảo Trâm, sinh ngày 30 tháng 10 năm 2020 cho anh Nguyễn Văn A trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi trưởng thành. Giao cháu Phan Bảo Linh, sinh ngày 08 tháng 6 năm 2024 cho chị Nguyễn Thị B trực trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi trưởng thành. Anh Nguyễn Văn A và chị Nguyễn Thị B không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Về án phí: Anh Nguyễn Văn A phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nạp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí toà án số 0012085, ngày 12/6/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, Bị đơn có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc 15 ngày bản án được niêm yết công khai. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Nghệ An;

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKS Khu vực 5 – Nghệ An;

- Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An;

- UBND xã Đại Đồng, tỉnh Nghệ An (số 07, ngày 25/01/2019 (xã Thanh Phong – Thanh Chương cũ));

- Các đương sự;

- Lưu VP;

- Lưu hồ sơ vụ án;

Phan Ngọc Anh THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phan Thị Hà Giang Nguyễn Thị Hiền Lƣơng

Phan Ngọc Anh

Cỡ chữ