- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của của bà Trịnh Thị T: Tuyên bố bà Trịnh Thị D; sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn Nội 1, xã TT, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội mất năng lực hành vi dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ,TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------------- Số: 13/2024/QĐST - VDS Ngày 09/10/2024 |
QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚC THỌ,THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự:
- Thẩm phán - Chủ tọaì phiên họp: Ông Phạm Thanh Hải
- Thư ký phiên họp: Nguyễn Anh Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, T phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ, tham gia phiên họp: Khuất Thị Mỹ Dung - Kiểm sát viên
Ngày 09 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 50/2024/TLST-VDS ngày 02 tháng 10 năm 2024, về yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số /2024/QĐST-VDS ngày 03 tháng 10 năm 2024 gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu: Bà Trịnh Thị T, sinh năm 1961
Địa chỉ: Thôn Nội 1, xã TT, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.
- Người bị yêu cầu: Bà Trịnh Thị D, sinh năm 1970
Địa chỉ: Thôn Nội 1, xã TT, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trịnh Thị L, sinh năm 1976
Địa chỉ: Thôn Nội 1, xã TT, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội.
Bà T và bà L đều có đơn xin giải quyết vắng mặt.
NỘI D VỤ VIỆC:
Bà Trịnh Thị D, sinh năm 1970 là con gái thứ 3/5 của cụ Trịnh Văn Đ và cụ Nguyễn Thị B (Hiện nay cụ Đ và cụ B đều đã chết). Bà D chưa từng kết hôn với ai. Từ khi sinh ra thì trông bà D đã không như những đứa trẻ sơ sinh bình thường khác. Từ lúc sơ sinh đến năm gần 4 tuổi thì bà D chậm phát triển, không biết chững, không biết đi, không nói được, chỉ ê a rồi nằm một chỗ. Khoảng đến tận năm 4 tuổi thì bà D mới bắt đầu biết đi và bập bẹ biết nói được vài từ. Từ nhỏ đến nay, bà D chỉ quanh quẩn ở nhà chứ không đi đâu. Bà D không nhận thức được mọi vấn đề xung quanh, không được đi học nên không biết chữ. Bà D không có khả năng lao động. Mọi sinh hoạt cá nhân hàng ngày đều phải do người nhà phục vụ. Thời điểm hiện tại, bà D đã 54 tuổi nhưng vẫn ngô nghê như đứa trẻ, tính tình hay dỗi, rất ít nói. Hàng ngày bà D chỉ ngồi một chỗ, không giao tiếp với ai, người nhà cho ăn thì ăn chứ đói cũng không biết đòi hỏi. Bà D chưa từng kết hôn với ai. Hiện nay bà D đang được hưởng trợ cấp xã hội đối với người bị khuyết tật, mức trợ cấp là 1.000.000đ/tháng.
Nay bà T làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ giải quyết việc dân sự tuyên bố bà Trịnh Thị D mất năng lực hành vi dân sự và bà là người giám hộ cho bà D để gia đình tiện thực hiện các giao dịch dân sự liên quan đến bà D.
Bà L đồng ý với yêu cầu của bà T.
Ngày 20/9/2024, bà Trịnh Thị D đã được các giám định viên Viện pháp y tâm thần trung ương tiến hành giám địnhsức khỏe tâm thần về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi tại Viện pháp y tâm thần trung ương.
Bà Trịnh Thị T và bà Trịnh thị L đều có đơn xin giải quyết vắng mặt tại phiên họp và giữ nguyên yêu cầu giải quyết việc dân sự.
Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phúc Thọ phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc dân sự: Tòa án nhân dân huyện Phúc Thọ thụ lý giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền; Việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng và các thời hạn bảo đảm đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Tòa án áp dụng Điều 19, Điều 22 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 27, 149, 370, 371, 372, 376, 378 Bộ luật Tố dụng dân sự: Chấp nhận yêu cầu của bà Trịnh Thị T về việc yêu cầu tuyên bố bà Trịnh Thị D mất năng lực hành vi dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên họp ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp, Tòa án nhận định:
1. Bà Trịnh Thị D, sinh năm 1970 trú tại thôn Thôn Nội 1, xã TT, huyện Phúc Thọ, Thành phố Hà Nội. Từ khi sinh ra, trí tuệ và nhận thức của bà D đã không bình thường như những đứa trẻ khác. Hiện tại bà D đã 54 tuổi nhưng không có khả năng lao động, không biết chữ, không nhận thức được mọi vấn đề xung quanh. Mọi sinh hoạt cá nhân đều phải do người thân phục vụ. Bà D chưa từng kết hôn với ai. Hiện nay, bà D đang được hưởng trợ cấp xã hội đối với người khuyết tật đặc biệt nặng, mức trợ cấp là 1.000.000đ/tháng.
Ngày 20/9/2024, bà Trịnh Thị D đã được các Giám định viên của Viện pháp y tâm thần trung ương thực hiện việc giám định sức khỏe tâm thần về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi tại phòng khám Viện pháp y tâm thần trung ương; Địa chỉ: Xã Hòa Bình, huyện Thường Tín, Thành phố Hà Nội.
Tại “Văn bản ghi nhận quá trình giám định sức khỏe tâm thần theo trưng cầu số 09/VBGNQTGĐ ngày 06/9/2024”, Viện pháp y tâm thần Trung ương đã ghi nhận: “Ngày 20/9/2024, đối tượng đến giám định sức khỏe tâm thần tại phòng khám Viện pháp y tâm thần trung ương để giám định sức khỏe tâm thần tại phòng khám. Quá trình thăm khám tiếp xúc thấy: Đối tượng tỉnh, tiếp xúc chậm các năng lực định hướng rối loạn. Cảm xúc bàng quan. Tri giác không có ảo tưởng, ảo giác. Tư duy nhịp chậm, nghèo nàn, nông cạn, không có hoang tưởng, ám ảnh, định kiến. Hành vi chậm, thụ động, mọi sinh hoạt hàng ngày do người thân phục vụ. Ăn ngủ được. Trí nhớ, trí tuệ kém, khả năng thông hiểu và sử dụng ngôn ngữ kém, khả năng giao tiếp kém, không có khả năng nhận thức xã hội và môi trường xung quanh, không có khả năng phân tích, tổng hợp. Chú ý kém tập trung. Nội khoa thần kinh chưa phát hiện gì đặc biệt. Test tâm lý: Đối tượng không thực hiện được trắc nghiệm do không giao tiếp được”
Theo "Kết luận giám định sức khỏe tâm thần theo trưng cầu” số 315/KLGĐ ngày 24/9/2024 của Viện pháp y tâm thần trung ương kết luận “Tại thời điểm giám định, đối tượng Trịnh Thị D bị bệnh Chậm phát triển tâm thần nặng. Theo phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã số F72. Đối tượng mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”.
2. Xét thấy: Yêu cầu của bà Trịnh Thị T là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Do vậy, yêu cầu của bà T là có cơ sở nên chấp nhận, tuyên bố bà Trịnh Thị D bị mất năng lực hành vi dân sự
Bố mẹ của bà Trịnh Thị D là Ông Trịnh Văn Đang và Bà Nguyễn Thị Bé đềuđã chết, bà D chưa từng kết hôn với ai. Bà Trịnh Thị T là chị gái ruột của bà Trịnh Thị D nên bà T là người giám hộ đương nhiên và là người đại diện theo pháp luật của bà D.
3. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Trịnh Thị T là người cao tuổi nên được miễn lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 19, Điều 22, khoản 1 Điều 53, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 27, 149, 370, 371, 372, 376, 378 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu của của bà Trịnh Thị T: Tuyên bố bà Trịnh Thị D; sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn Nội 1, xã TT, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội mất năng lực hành vi dân sự.
2. Bà Trịnh Thị T, sinh năm 1961; Địa chỉ: Thôn Nội 1, xã TT, huyện Phúc Thọ, thành phố Hà Nội là người giám hộ đương nhiên và là người đại diện theo pháp luật của bà Trịnh Thị D.
3. Giao dịch dân sự của người mất năng lực hành vi dân sự do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện.
4. Về lệ phí: Miễn lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm cho bà Trịnh Thị T
5. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Bà Trịnh Thị T và Bà Trịnh Thị L có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày được giao nhận quyết định hoặc quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định theo quy định tại Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: CHñ TäA PHI£N HäP - TANDTP Hà Nội; - VKSND huyÖn Phóc Thä; - Chi Cục THADS huyện Phúc Thọ; - Ng êi yªu cÇu; -L u hå s¬, VP. | thÈm ph¸n - Phạm Thanh Hải |