vanban.org

Quyết định 13/2023/QĐ-TA

TAND huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 16/02/2023 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính;

Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Quyết định cai nghiện bắt buộc."
  • Tòa quyết gì? Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính;
  • Căn cứ chính? Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ
TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 13/2023/QĐ-TAĐ, ngày 16 tháng 02 năm 2023

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

- Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Nguyễn Duy Khánh

- Thư ký phiên họp: Bà Đào Hồng Thanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Ngày 16 tháng 02 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 15/2023/QĐ-TA ngày 07 tháng 02 năm 2023, đối với:

Chu Văn H, sinh năm 1993

Trú tại: Xóm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Giới tính: Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Chu Văn Đ (Sinh năm 1968); con bà Nguyễn Thị N (Sinh năm 1971).

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại quyết định số 08/2016/QĐ-TA ngày 08/7/2016 bị Toà án nhân dân huyện Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

(Vắng mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

- Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Nguyễn Quân Anh, Chức vụ: Cán bộ Phòng Lao động Thương Binh và Xã hội huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ: Bà Nguyễn Thị Ngân, chức vụ: Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo tài liệu có trong hồ sơ đề nghị, tại bản tường trình, biên bản lấy lời khai và tại phiên họp, H xác định: H sử dụng và lệ thuộc vào ma túy từ năm 2016, loại ma túy sử dụng là heroine, hình thức sử dụng “hít”. Bản thân H đã 01 lần bị Tòa án nhân dân huyện Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 16 tháng. Sau khi chấp hành xong quyết định của tòa án (ngày 12/8/2022) H trở về địa phương, Ủy ban nhân dân xã Đ huyện Đ đã ra quyết định số 1017/QĐ-UBND ngày 22/8/2022 về việc áp dụng biện pháp quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú đối với H. Tuy nhiên, H chưa bỏ được ma túy. Ngày 07/01/2023, H lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy heroine với hình thức là hít.

Ngày 09/01/2023 Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Trạm y tế xã Đ, huyện Đ đã kiểm tra, xét nghiệm ma túy trong nước tiểu của H, kết quả dương tính với chất ma túy. Công an xã Đ đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Tại biên bản xét nghiệm ma túy ngày 09/01/2023 và Phiếu kết quả xét nghiệm ma túy trong nước tiểu ngày 09/01/2023 của Trạm y tế xã Đ có kết quả xét nghiệm đối với H xác định: Dương tính với chất ma túy trong cơ thể.

Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy của Bệnh viện đa khoa huyện Đ xác định tình trạng nghiện ma túy đối với H: Có nghiện ma túy.

Công văn số: 40/ĐN-CNBB, ngày 18/01/2023 của Phòng Lao động Thương binh và xã hội huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn H.

Tại phiên họp:

- Đại diện phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đ vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án nhân dân xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với Chu Văn H với thời gian 18 tháng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ phát biểu ý kiến:

Việc tuân theo pháp luật của Tòa án: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng quy định tại Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 như: Thời hạn ra Thông báo thụ lý vụ việc, ra Quyết định mở phiên họp, thành phần tham gia phiên họp.

Quan điểm của Kiểm sát viên về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Có đủ căn cứ và thủ tục áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn H, nhất trí quan điểm của đại diện Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đ đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn H với thời gian là từ 15 đến 18 tháng.

XÉT THẤY:

Qua xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Hăn H, thấy rằng:

- Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH 13 trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh Chu Văn H thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Về thời hiệu: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện Đ đối với Chu Văn H vẫn trong thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

- Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 41 Nghị định 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị, người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thấy rằng:

Chu Văn H sử dụng và lệ thuộc vào ma túy từ năm 2016, đã 01 lần bị Tòa án nhân dân huyện Đ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Sau khi chấp hành xong, H lại tiếp tục sử dụng ma túy, lần sử dụng ma túy loại heroine gần nhất là ngày 07/01/2023, với hình thức là hít.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của H là trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về ma tuý, làm tệ nạn ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, ảnh hưởng xấu đến việc phòng chống tệ nạn xã hội của Nhà nước ta, nên việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với H là cần thiết.

Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với H thấy: H là người nghiện ma túy, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, và biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nH sau khi chấp hành xong quyết định H lại tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Trong quá trình lập hồ sơ H đã tự nguyện khai báo, nhận thức được hành vi vi phạm của mình là vi phạm pháp luật, đây được coi là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. H không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo quy định tại Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Như vậy, đã đủ căn cứ để xác định Chu Văn H thuộc đối tượng “Trong thời gian quản lý sau cai nghiện ma túy mà tái nghiện” theo khoản 4 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy.

Xét đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đ về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Chu Văn H là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

- Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; Điều 103; Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính;

- Khoản 1 Điều 3, các Điều 22, 23, 29, 30, 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/20214 quy định về: Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân;

- Điều 32 Luật phòng, chống ma túy;

- Nghị định số 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy;

- Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với:

Họ và tên: Chu Văn H, sinh năm 1993

Trú tại: Xóm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Địa điểm cai nghiện bắt buộc: Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên. Địa chỉ: Tổ 5, phường Thịnh Đán, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án.

Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 32 của pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện Đ phối hợp với Công an huyện Đ đưa người phải chấp hành Quyết định vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ