- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Đặng Thị H- Bùi Văn T"
- Tòa quyết gì? Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 27 tháng 4 năm 2022, cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHIÊM HÓA TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 13/2022/QĐCNTTLH | Chiêm Hóa, ngày 12 tháng 5 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC BÊN THAM GIA HÒA GIẢI TẠI TÒA ÁN
Căn cứ vào các Điều 32,33,34 và 35 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;
Căn cứ vào Điều 55, 57, 58, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117, 118 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ yêu cầu Tòa án công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của chị Đặng Thị H và anh Bàn Văn T.
Sau khi nghiên cứu:
- Đơn khởi kiện đề ngày 20/4/2022 về việc yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con của chị Đặng Thị H.
- Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 27/4/2022 về việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải sau đây:
+ Người khởi kiện: Chị Đặng Thị H, sinh năm 1995.
Địa chỉ: Thôn M, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
+ Người bị kiện: Anh Bàn Đức T, sinh năm 1994;
Địa chỉ: Thôn Y, xã P, huyện C, tỉnh Tuyên Quang.
- Các tài liệu kèm theo Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Việc thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi nhận trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 27 tháng 4 năm 2022 có đủ các điều kiện quy định tại Điều 33 của Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
QUYẾT ĐỊNH
1. Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các bên tham gia hòa giải được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 27 tháng 4 năm 2022, cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Đặng Thị H và anh Bàn Đức T thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Anh Bàn Đức T là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bàn Đình N, sinh ngày 17/12/2014, chị Đặng Thị H cấp dưỡng nuôi cháu N là 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng, phương thức cấp dưỡng theo tháng, cấp dưỡng vào ngày 28 hằng tháng, bắt đầu cấp dưỡng từ tháng 6/2022 cho đến khi cháu Nghĩa đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp luật có quy định khác.
- Về tài sản chung và nợ chung: Chị Đặng Thị H và anh Bàn Đức T đều xác định không có nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
2. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Các bên tham gia hòa giải ; - VKSND huyện C; - UBND xã Y ; - Chi cục THADS huyện C; - TAND tỉnh Tuyên Quang; - Lưu. | THẨM PHÁN Đào Thị Bích Ngọc |