- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "ông Đặng Thế L yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự đối với chị Đặng Thị Vĩnh H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của ông Đặng Thế L.
- Căn cứ chính? Điều 22 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B TỈNH Đ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 13/2021/QĐST-VDS Ngày 15/03/2021 V/v: Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ B
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Đồng Thị Hồng
- Thư ký phiên họp: Bà Thành Thị Thu Trang - Thư ký Tòa án, Tòa án
nhân dân thành phố B.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B tham gia phiên họp: Bà
Đặng Hoàng Oanh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 03 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đ, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 875/2020/TLST-VDS ngày 29 tháng 12 năm 2020 về việc “Tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự sơ thẩm số 153/2021/QĐST-DS ngày 26 tháng 02 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ông Đặng Thế L, sinh năm 1949 (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: 15C, tổ 10, Khu phố 5, phường An Bình, thành phố B, tỉnh Đ.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ
Ông Đặng Thế L yêu cầu tuyên bố chị Đặng Thị Vĩnh H, sinh năm 1990; địa chỉ cư trú: 15C, tổ 10, Khu phố 5, phường An Bình, thành phố B, tỉnh Đ, là người mất năng lực hành vi dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố B nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Ông Đặng Thế L yêu cầu tuyên bố chị Đặng Thị Vĩnh H là người mất năng lực hành vi dân sự, nên quan hệ pháp luật được xác định là “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự”, quy định tại khoản 1 Điều 27 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Ông Đặng Thế L yêu cầu tuyên bố chị Đặng Thị Vĩnh H là người mất năng lực hành vi dân sự, hiện chị Đặng Thị Vĩnh H đang cư trú tại địa chỉ: 15C, tổ 10, Khu phố 5, phường An Bình, thành phố B, tỉnh Đ. Vì vậy, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân thành phố B, theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 35 và điểm a khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị Đăng Thị Vĩnh H là con ruột của ông Đặng Thế L, theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự và tại bản tự khai ông L trình bày chị H bị bệnh tâm thần phân liệt từ nhỏ, 03 tuổi mới biết đi, 04 tuổi mới biết nói, lớn lên đi học kém, 03 năm mới học hết 01 lớp, chỉ làm được các công việc đơn giản nH phải có người hướng dẫn, không có bạn bè. Chị H được Bệnh viện đa khoa Đ và Bệnh viện tâm thần Trung ương II khám xác định chậm phát triển tâm thần và hiện đang điều trị. Do ông L đang là nguyên đơn trong vụ kiện “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, vụ kiện này đã được Toà án nhân dân tỉnh Đ thụ lý. Do chị Đặng Thị Vĩnh H đang ở cùng ông L trên căn nhà, đất có tranh chấp và chị H được Toà án nhân dân tỉnh Đ xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án nói trên. Tuy nhiên, do chị H bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Ngoài ra chị H còn có mẹ ruột là bà Đặng Thị Ngát, nH bà Ngát đã chết năm 1991. Do đó, để có căn cứ giải quyết vụ án tranh chấp đất đai nói trên, ông Đặng Thế L đã yêu cầu giải quyết việc dân sự “Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự” đối với chị Đặng Thị Vĩnh H tại Toà án nhân dân Thành phố Biên Hoà. Vụ việc được thụ lý và giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 14 tháng 01 năm 2021, Toà án nhân dân thành phố B ban hành Quyết định trưng cầu giám định về năng lực hành vi dân sự đối với chị Đặng Thị Vĩnh H tại Viện pháp y tâm thần Trung ương B. Ngày 22 tháng 02 năm 2021, Viện pháp y tâm thần Trung ương B đã tiến hành giám định pháp y tâm thần đối với chị H. Tại Kết luận Giám định pháp y tâm thần số 150/KL-VPYTW ngày 22 tháng 02 năm 2021 của Viện pháp y tâm thần Trung ương B, kết luận đối với trường hợp của chị H như sau:
- Về y học: Hiện nay đương sự bị bệnh Chậm phát triển tâm thần mức độ trung bình có tật chứng về đáng kể đòi hỏi theo dõi điều trị (F71.1 - ICD. 10).
- Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi: Hiện nay, đương sự mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Với nhận định trên, xét thấy việc ông Đặng Thế L có đơn yêu cầu tuyên bố chị Đặng Thị Vĩnh H là người mất năng lực hành vi dân sự là có căn cứ, nên được chấp nhận.
Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: ông Đặng Thế L thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát thành phố B tham gia phiên họp phù hợp với nhận định trên nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm a khoản 2 Điều 39, Điều 366, 369, 370, 371, 372 và Điều 378 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015;
Áp dụng Điều 22 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
1. Chấp nhận yêu cầu của ông Đặng Thế L.
2. Tuyên bố chị Đặng Thị Vĩnh H, sinh năm 1990; hiện đang cư trú tại địa chỉ: 15C, tổ 10, Khu phố 5, phường An Bình, thành phố B, tỉnh Đ, là người mất năng lực hành vi dân sự.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: ông Đặng Thế L thuộc trường hợp được miễn nộp tiền lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đ; - VKSND thành phố B; - Chi cục thi hành án thành phố B; - Các đương sự; - Lưu. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Đồng Thị Hồng |