vanban.org

Quyết định 13/2021/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi

TAND TP. Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Tuyên án 15/11/2021 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Tuyết Nh, yêu cầu tuyên bố ông Phạm Văn A1 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Tuyên bố ông Phạm Văn A1 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Chỉ định ông Phạm Ngọc Th là người giám hộ của ông Phạm Văn A1. Ông Th có các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại các Điều 57, Điều 58 và Điều 59 Bộ luật Dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Tuyết Nh, yêu cầu tuyên bố ông Phạm Văn A1 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
  • Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 Bộ luật Dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAO LÃNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 13/2021/QĐST-DSTP. Cao Lãnh, ngày 15 tháng 11 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn

trong nhận thức, làm chủ hành vi

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO LÃNH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Châu Nữ Thu Hân.

- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cao Lãnh tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 17/2021/TLST-VDS, ngày 28 tháng 6 năm 2021, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 51/2021/QĐST-DS, ngày 20 tháng 10 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 20/2021/QĐST-DS, ngày 03 tháng 11 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu: Bà Phạm Thị Tuyết Nh, sinh năm xxx; Địa chỉ: Số x đường y, khóm z, Phường q, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm Văn A1, sinh năm ..., địa chỉ: Số a, đường b, Phường c, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

2. Ông Phạm Ngọc A2, sinh năm ..., địa chỉ: Số d, đường e, phường T, quận P, thành phố Hồ Chí Minh.

3. Bà Phạm Thị Thúy Ng, sinh năm ..., địa chỉ: Số c, đường Đ, Phường h, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

4. Ông Phạm Ngọc Th, sinh năm ..., địa chỉ: Số d, đường b, Khóm c, Phường c, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

5. Ông Phạm Ngọc N, sinh năm ..., địa chỉ: Số a, đường C, Khóm v, Phường c, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.

Bà Phạm Thị Tuyết Nh, ông Phạm Ngọc Th và ông Phạm Ngọc N có mặt tại phiên họp; Ông Phạm Ngọc A2 có đơn xin vắng mặt, bà Phạm Thị Thúy Ng vắng mặt tại phiên họp.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

- Theo đơn yêu cầu, bản tự khai và tại phiên họp, người yêu cầu bà Phạm Thị Tuyết Nh trình bày:

Ngày 31/10/2020 ông Phạm Văn A1 là cha của bà Nh bị bệnh nặng phải nhập viện tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp 10 ngày, từ ngày 31/10/2020 đến ngày 10/11/2020. Chuẩn đoán ông A1 bị bệnh “Tăng huyết áp vô căn – Viêm phổi nặng – Teo não – Viêm thoái hóa cột sống thắt lưng – Xẹp thân sống L2 – Táo bón”. Xuất viện xong ông A1 tiếp tục đi tái khám vào ngày 18/11/2020, Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp chuẩn đoán ông A1 bị bệnh “Thoái hóa cột sống – Sa sút trí tuệ trong bệnh Alzhenimer mức độ trung bình – Các viêm xương khớp khác – Bệnh Alzhenimer – Rối loạn vào giấc và duy trì giấc ngủ (mất ngủ).

Ngày 26/5/2021 bà Nh có yêu cầu Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Tây Nam Bộ giám định pháp y tâm thần tình trạng sức khỏe của ông A1. Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu số 146/2021/KLGĐYC ngày 02/6/2021 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Tây Nam Bộ, kết luận như sau: Về y học, ông A1 có bệnh lý tâm thần “Mất trí không phân định (F03 – ICD10). Về năng lực thì ông A1 khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

Ông Phạm Văn A1 có vợ là bà Nguyễn Thị K đã chết vào ngày 19/6/1983 và các con là bà Phạm Thị Tuyết Nh, ông Phạm Ngọc A2, bà Phạm Thị Thúy Ng, ông Phạm Ngọc Th và ông Phạm Ngọc N.

Bà Nh, ông A2, bà Ng và ông Th thống nhất cử ông Th làm người giám hộ cho ông Phạm Văn A1.

Tại phiên họp, bà Nh yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn A1 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và yêu cầu cử ông Phạm Ngọc Th làm người giám hộ cho ông A1. Lý do của việc yêu cầu: Để bà Nh bổ sung hồ sơ thừa kế và cử người giám hộ cho ông A1 nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông A1; đảm bảo việc chăm sóc, điều trị bệnh; đại diện cho ông A1 trong các giao dịch dân sự và quản lý tài sản của ông A1. Căn cứ của việc yêu cầu: Hồ sơ điều trị bệnh của ông Phạm Văn A1 tại Bệnh viện Đa khoa Đồng Tháp 10 ngày, từ ngày 31/10/2020 đến ngày 10/11/2020 và Kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu số 146/2021/KLGĐYC ngày 02/6/2021 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Tây Nam Bộ.

- Theo bản tự khai và tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc Th trình bày:

Ông Th thống nhất với lời trình bày và yêu cầu của bà Nh về việc tuyên bố ông Phạm Văn A1 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, ông Th đồng ý làm người giám hộ cho ông A1.

- Tại phiên họp, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Ngọc N trình bày:

Ông Phạm Văn A1 có vợ là bà Nguyễn Thị K đã chết vào ngày 19/6/1983 và các con là bà Phạm Thị Tuyết Nh, ông Phạm Ngọc A2, bà Phạm Thị Thúy Ng, ông Phạm Ngọc Th và ông Phạm Ngọc N.

Ông N thống nhất với Kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu số 146/2021/KLGĐYC ngày 02/6/2021 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Tây Nam Bộ, kết luận về năng lực ông A1 khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Ông N thống nhất với việc bà Nh yêu cầu tuyên bố ông A1 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi và đồng ý việc cử ông Th làm người giám hộ cho ông A1.

- Theo bản tự khai ngày 02/7/2021, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Thúy Ng trình bày:

Ông Phạm Văn A1 có vợ là bà Nguyễn Thị K đã chết vào ngày 19/6/1983 và các con là bà Phạm Thị Tuyết Nh, ông Phạm Ngọc A2, bà Phạm Thị Thúy Ng, ông Phạm Ngọc Th và ông Phạm Ngọc N. Bà Ng đồng ý cử ông Th làm người giám hộ cho ông A1.

- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

Về thủ tục: Trong quá trình thu thập chứng cứ, từ khi thụ lý đến trước khi mở phiên họp, Thẩm phán đã tiến hành đúng với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà Nh, yêu cầu Tòa án tuyên bố ông Phạm Văn A1 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, và đề nghị chỉ định ông Th làm người giám hộ cho ông A1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh nhận định:

Về tố tụng: Theo đơn yêu cầu, bà Nh yêu cầu Tòa án tuyên bố ông A1 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Ông A1 cư trú tại Phường c, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35, Điều 39 và Điều 361 Bộ luật Tố tụng dân sự, yêu cầu của bà Nh thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Lãnh.

Về yêu cầu của người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

Theo Kết luận giám định pháp y tâm thần theo yêu cầu số 146/2021/KLGĐYC ngày 02/6/2021 của Trung tâm Pháp y Tâm thần khu vực Tây Nam Bộ, kết luận: Về năng lực, ông Phạm Văn A1 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Do đó căn cứ vào Điều 23 Bộ luật Dân sự, yêu cầu của bà Nh là có căn cứ chấp nhận.

Về việc chỉ định người giám hộ:

Tại phiên họp, bà Nh, ông Th, ông N thống nhất để ông Th làm người giám hộ cho ông A1, điều này cũng phù hợp với ý kiến của ông A2 và bà Ng. Bên cạnh đó, theo Công văn số 1225/UBND-HC ngày 06/10/2021 của Ủy ban nhân dân Phường c, thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp về việc cung cấp thông tin thì ông Th chấp hành tốt chính sách, pháp luật tại địa phương đang cư trú. Do đó, căn cứ Điều 46, Điều 49, Điều 53 và Điều 54 Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án chỉ định ông Th làm Người giám hộ cho ông A1.

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 27, khoản 2 Điều 35, Điều 39, Điều 149, Điều 361, Điều 370, Điều 376 và Điều 378 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào các Điều 23, Điều 46, Điều 49, Điều 53 và Điều 54 của Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 4, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Chấp nhận yêu cầu của bà Phạm Thị Tuyết Nh, yêu cầu tuyên bố ông Phạm Văn A1 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

- Tuyên bố ông Phạm Văn A1 là người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

- Chỉ định ông Phạm Ngọc Th là người giám hộ của ông Phạm Văn A1. Ông Th có các quyền và nghĩa vụ của người giám hộ theo quy định tại các Điều 57, Điều 58 và Điều 59 Bộ luật Dân sự.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Nh phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0015592, ngày 28/6/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Lãnh. Như vậy, bà Nh đã nộp xong lệ phí sơ thẩm.

- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định; đương sự vắng mặt thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết. Quyết định này có thể bị kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ