- Tranh chấp gì? "Phạm Thế V - Chủ tịch UBND Phường B"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Văn B. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số: 01/2020/QĐST-HC ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính ra; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 13/2020/QĐ-PT | Tiền Giang, ngày 06 tháng 11 năm 2020 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG
Với Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Bà Trần Thị Kim Em
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Diệp Thúy
Bà Lâm Ngọc Tuyền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên họp: Bà Trần Thị Phương Thảo, Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 01/2020/QĐST-HC ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang đã căn cứ vào điểm khoản 5 Điều 38, Điều 144, điểm g khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính quyết định chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” giữa:
Người khởi kiện: Ông Lê Văn B, sinh năm 1952;
Địa chỉ: Khu phố 1, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Người bị kiện: Chủ tịch Ủy Ban nhân dân thị trấn V, huyện G.
Địa chỉ: Khu phố 3, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Tại đơn kháng cáo ngày 16 tháng 9 năm 2020 của người khởi kiện ông Lê Văn B yêu cầu hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 01/2020/QĐST-HC ngày 25/8/2020 của Tòa án nhân dân huyện G, với lý do: Không đồng ý với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang phát biểu: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng phúc thẩm là đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Ông Lê Văn B khởi kiện yêu cầu hủy công văn số: 157/UBAND trả lời đơn yêu cầu hòa giải của ông cho rằng lối đi mà 10 hộ đang sử dụng làm lối đi là đường đi công cộng làm ảnh hưởng đến quyền lợi của ông. Nhưng ông B đã nhận quyết định này nên vào ngày 23/9/2016 ông B đã làm đơn khiếu nại Công văn số: 157/UBAND ngày 26/8/2016 đến Ủy ban nhân dân huyện G. Ngày 25/10/2016 Ủy Ban nhân dân huyện G cũng đã ban hành văn bản số 1855/UBAND trả lời đơn khiếu nại của ông B. Nhưng đến ngày 24/3/2020 ông B mới khởi kiện yêu cầu hủy công văn số: 157/UBAND ngày 26/8/2016 là hết thời hiệu khởi kiện theo qui định điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính. Tòa án huyện G căn cứ điểm g khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính ra quyết định đình chỉ vụ án là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Văn B. Giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 01/2020/QĐST-HC ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện G.
XÉT THẤY:
Ngày 01/8/2016, ông Lê Văn B gửi đơn đến Ủy ban nhân dân thị trấn V yêu cầu hòa giải về việc tranh chấp lối đi giữa ông Lê Văn B và 10 hộ dân. Ngày 26/8/2016 Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn V ban hành công văn số: 157/UBAND trả lời đơn yêu cầu hòa giải của ông B trong đó có nội dung “theo hiện trạng thì phía Đông thửa đất giáp ranh với đường đi công cộng, căn cứ nội dung đơn yêu cầu của ông cho rằng 10 hộ đang đi trên lối đi thuộc phần đất chủ quyền do hộ ông đang quản lý là không phù hợp” và “lối đi mà 10 hộ dân đang sử dụng là đường đi công cộng do nhà nước quản lý…”. Sau khi nhận công văn trên, ngày 23/9/2016 ông B đã làm đơn khiếu nại đến Ủy ban nhân dân huyện G khiếu nại công văn số: 157/UBAND ngày 26/8/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn V và được Ủy ban nhân dân huyện G Ban hành công văn số: 1855/UBAND ngày 25/10/2016 trả lời khiếu nại của ông Lê Văn B. Như vậy ông B đã biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm từ ngày 23/9/2016 ông B có quyền khởi kiện yêu cầu hủy quyết định trên trong thời hạn 01 năm kể từ ngày 24/9/2016 theo qui định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính. Nhưng đến ngày 24/3/2020 ông B mới nộp đơn khởi kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn V đến Tòa án nhân dân huyện G với yêu cầu thu hồi, hủy bỏ Công văn số 157/UBAND ngày 26/8/2016 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị trấn V ký ban hành với nội dung trên là trái thẩm quyền. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm g khoản 1 Điều 143 của Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải quyết vụ án hành chính do hết thời hiệu khởi kiện là có căn cứ. Ông kháng cáo nhưng không cung cấp chứng cứ chứng minh nên Hội đồng không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông B, giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số: 01/2020/QĐST-HC ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang.
Về án phí phúc thẩm: Ông B được miễn án phí phúc thẩm do là người cao tuổi.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 243 Luật Tố tụng hành chính, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Lê Văn B. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số: 01/2020/QĐST-HC ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện G, tỉnh Tiền Giang.
2. Về án phí phúc thẩm: Ông B được miễn tiền án phí phúc thẩm. Hoàn lại ông B 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0018009 ngày 24 tháng 9 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện G, tỉnh Tiền Giang.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Tiền Giang; - TAND huyện G; - CCTHADS huyện G; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Thị Kim Em |