- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị Bùi Thị D đề nghị ly hôn với anh Bùi Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Bùi Thị D được ly hôn với anh Bùi Văn T .
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HOÀ BÌNH { | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:13/2020/HNGĐ-ST Ngày: 12/6/2020 V/v. Tranh chÊp vÒ h«n nh©n vµ gia ®×nh |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN - TỈNH HOÀ BÌNH
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hoa.
- Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Bùi Văn Tấn;
2. Ông: Bùi Văn Ơn.
- Thư ký ghi biên bản phiên toà bà: Hoàng Thị Khánh Linh - Thư ký toà án nhân dân huyện Lạc Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà bà Nguyễn Thị Phúc- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn.
Ngày 12 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn - tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 23/2020/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 02 năm 2020 tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2020/QĐXX-ST ngày 14/5/2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2020/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: chị Bùi Thị D, sinh năm 1990. Địa chỉ: xóm Vó 2, xã Chí Thiện (nay là xóm Vó, xã Quyết Thắng), huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Có mặt.
- Bị đơn: anh Bùi Văn T, sinh năm 1988. Địa chỉ: xóm Vó 2, xã Chí Thiện (nay là xóm Vó, xã Quyết Thắng), huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình .Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị D trình bày:
Về tình cảm: chị và anh Bùi Văn T kết hôn năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, đăng ký kết hôn tại UBND xã Định Cư, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình và tổ chức kết hôn theo phong tục tập quán địa phương.
Thời gian đầu chung sống, hai vợ chồng sống hòa thuận, yêu thương nhau. Đến đầu năm 2018 hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất hòa. Nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, xung đột khiến mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng. Hai vợ chồng ly thân từ giữa năm 2018 cho đến nay. Hiện nay, chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị D đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn với anh Bùi Văn T.
Về con chung: Chị D và anh T có 01 con chung là cháu Bùi Hoàng H, sinh ngày 25/5/2012. Hiện nay, chị D đang trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu H.Vợ chồng ly hôn chị D có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục con chung và chưa yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Về tài sản chung, công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị D không có yêu cầu gì thêm.
Về phía anh Bùi Văn T : Sau khi thụ lý vụ án,Tòa án đã gửi các các văn bản tố tụng: Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng không có kết quả, anh T vắng mặt không có lý do và cũng không có ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi cho Tòa án.
* Tại biên bản xác minh ngày ngày 27/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn chính quyền địa phương nơi cư trú của anh Bùi Văn T và chị Bùi Thị D có nội dung:
Anh Bùi Văn T và chị Bùi Thị D kết hôn năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn hợp pháp tại UBND xã Định Cư, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến đầu năm 2018 hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất hòa. Nguyên nhân là do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn yêu thương, quan tâm chăm sóc nhau, hai vợ chồng thường xuyên cãi vã, xung đột khiến mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng. Hai vợ chồng li thân từ giữa năm 2018, khả năng đoàn tụ là rất khó.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, anh T và chị D có 01 con chung là cháu Bùi Hoàng H, sinh ngày 25/5/2012. Hiện nay, chị D đang trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cháu Bùi Hoàng H.
Về điều kiện nuôi con của anh T và chị D:
- Xét về yếu tố nhân phẩm, đạo đức: anh T và chị D luôn giữ gìn tư cách, phẩm chất đạo đức có lối sống trong sạch, lành mạnh.Trong mối quan hệ với hàng xóm, láng giềng tại nơi cư trú luôn vui vẻ, cởi mở, hòa đồng, luôn lắng nghe và tôn trọng ý kiến của mọi người.
- Xét đến yếu tố kinh tế để nuôi con: anh T và chị D đều có công việc chính là làm ruộng, ngoài ra khi chưa vào mùa vụ thì anh T và chị D còn đi làm thuê để kiếm thêm thu nhập nên có đủ kiểu kiện kinh tế để nuôi con.
- Về thời gian chăm sóc, nuôi dưỡng con: anh T và chị D đang làm việc và sinh sống tại địa phương, thời gian làm việc không quá gò bó nên có đủ thời gian để dành cho việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về chỗ ở anh T và chị D có nhà cửa tại địa phương nên đủ điều kiện về chỗ ở để nuôi con.
Do đó, điều kiện nuôi con của anh anh T và chị D là ngang nhau. Anh T và chị D là người có đủ điều kiện về tư cách đạo đức, kinh tế, mức độ ổn định của nghề nghiệp, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
*Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình công nhận việc chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và các đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án.
Về nội dung:
- Về quan hệ hôn nhân: xác định mâu thuẫn giữa chị D và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D.
- Về con chung: Đề nghị giao cháu Bùi Hoàng H cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Chị D chưa đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con và anh T không có quan điểm gì về vấn đề cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nên đề nghị HĐXX chưa xem xét vấn đề cấp dưỡng nuôi con trong vụ án.
- Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không tranh chấp nên không đề cập giải quyết trong vụ án.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chị D phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa HĐXX nhận ®Þnh:
1. Về tố tụng: Đây là vụ án Hôn nhân và Gia đình “Ly hôn,tranh chấp về nuôi con”. Bị đơn là anh Bùi Văn T có hộ khẩu thường trú tại: xóm Vó, xã Quyết Thắng, huyện Lạc Sơn, Hòa Bình. Vì vậy,Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thông báo và tống đạt đầy đủ các văn bản cho các bên đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 175 và khoản 1, 2 Điều 177 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại Điều 211 BLTTDS. Tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205 BLTTDS để hai bên thỏa thuận với nhau việc giải quyết vụ án. Chị D và anh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa, đã được đảm bảo thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Bị đơn là anh Bùi Văn T đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh T.
2 Về quan hệ hôn nhân: quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị D và anh T và không có hạnh phúc; do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã, xung đột vì thế cuộc sống gia đình thường xuyên bất hòa.
Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa chị D và anh T đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không thể đạt được nên HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị D là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
3. Về con chung và cấp dƣỡng:
Quá trình chung sống, anh T và chị D có 01 con chung là cháu Bùi Hoàng H, hiện nay chị D đang trực tiếp nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn chị D đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu và chưa yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn.
Trong quá trình giải quyết vụ án, cháu Bùi Hoàng H trình bày nguyện vọng muốn ở với mẹ khi bố mẹ ly hôn.
Theo chị D trình bày và theo kết quả xác minh tại địa phương, anh T và chị D có điều kiện nuôi con là ngang nhau. Tuy nhiên, cháu H hiện đang còn nhỏ, rất cần sự quan tâm chăm sóc của người mẹ. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của con chung cũng như để cho các cháu có cuộc sống ổn định, tránh sự xáo trộn cần chấp nhận yêu cầu của chị D, giao con chung cho chị D trực tiếp nuôi dưỡng. Do chị D chưa đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con và anh T không có quan điểm gì về vấn đề cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn nên HĐXX không xem xét là phù hợp với quy định tại các Điều 81, 82, 83 luật Hôn nhân và Gia đình.
4. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
5. Về án phí: chị D phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời gian luật định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81 , 82, 83, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 147, 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
1. Về hôn nhân: Chị Bùi Thị D được ly hôn với anh Bùi Văn T .
2. Về con chung: Giao con chung là cháu Bùi Hoàng H, sinh ngày 25/5/2012 cho chị Bùi Thị D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác kể từ tháng 6 năm 2020. Anh T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dụccon thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị D không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
4. Về án phí: chị Bùi Thị D phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm và được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0002922 ngày 13/02/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn. Chị Bùi Thị D đã nộp đủ án phí.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thì hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai. Nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án, hoặc ngày niêm yết bản sao bản án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình; - VKSND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Lạc Sơn; - CCTHA huyện Lạc Sơn; - UBND xã Quyết Thắng; - Đương sự; - Lưu hồ sơ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Hoa |