- Tranh chấp gì? Các yêu cầu dân sự trong trường hợp chưa có điều luật để áp dụng — án dân sự — "Thành Thanh Chấm dứt nuôi con nuôi"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa mẹ nuôi là bà Phạm Thị T; Sinh năm 1958, cư trú tại: Thôn M 1 xã B, huyện T, tỉnh T đối với con nuôi là cháu Lê Văn T; Sinh ngày 07/01/2005 Cư trú tại: Khu 9 thị trấn T, huyện T, tỉnh T.
- Căn cứ chính? Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 371 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T TỈNH T Số: 13/2018/QĐDS-ST |
Ngày: 26/4/2018 V/v: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T
Với thành phần giải quyết việc dân sự: Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hằng - Thẩm phán Thư ký phiên họp: Ông Lê Văn Hân - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện T Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện T tham gia phiên họp: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 4 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 10/2018/TLST- DS ngày 22 tháng 3 năm 2018 về việc yêu cầu: Chấm dứt việc nuôi con nuôi theo Quyết định mở phiên họp số: 06/2018/QĐMPH - ST ngày 16 tháng 4 năm 2018.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Phạm Thị T; Sinh năm 1958. Có mặt Trú tại: Thôn M 1 xã B, huyện T, tỉnh T.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Cháu Lê Văn T, sinh ngày 07/01/2005. Có mặt
Người đại diện theo pháp luật của cháu T: Chị Dư Thị L, sinh năm 1972. Có mặt Đều trú tại: Khu 9 thị trấn T, huyện T, tỉnh T. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Yêu cầu: Chấm dứt việc nuôi con nuôi.
NHẬN ĐỊNH
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Tnhận định:
Bà Phạm Thị T và ông Lê Văn C tự nguyện kết hôn vào ngày 20/8/1986 và sinh được ba người con gái:
- Lê Thanh T, sinh năm 1987
- Lê Thị Q, sinh năm 1993
- Lê Thị Minh H, sinh năm 1999.
Quá trình vợ chồng chung sống do nặng nề tư tưởng phong kiến nên vào năm 2003 ông Lê Văn C đã đi quan hệ bất chính với cô Dư Thị L, sinh năm 1972, Quê quán: Xã T, huyện T, tỉnh T, hiện nay cư trú tại: Khu 9 thị trấn T, huyện T, tỉnh T và sinh được ba người con là:
- Lê Văn T, sinh ngày 07/01/2005
- Lê Thị Minh T, sinh năm 2008
- Lê Văn P, sinh năm 2010.
Vào tháng 12/2009 bà Phạm Thị T và ông Lê văn C đã tự nguyện nhận cháu Lê Văn T sinh ngày 07/01/2005 để làm con nuôi theo Quyết định công nhận việc nuôi con nuôi số 01/QĐ- UBND ngày 15/12/2009 của UBND xã B, huyện T, tỉnh T. Ông C và bà T đã nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu T từ tháng 12/2009 đến tháng 12/2016 cháu T đã bỏ về sống cùng mẹ đẻ của cháu là cô Dư Thị L ở khu 9 thị trấn T.
Vào ngày 04/02/2018 ông Lê Văn C chết. Hiện nay cháu T không chăm sóc bà T và thờ cúng ông C. Vì vậy bà T yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa mẹ nuôi là bà Phạm Thị T, sinh năm 1958 đối với con nuôi là cháu Lê Văn T, sinh ngày 07/01/2005.
Yêu cầu của bà Phạm Thị T về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi là có căn cứ tại vì: Hiện tại con nuôi là cháu Lê Văn T đã về chung sống cùng mẹ đẻ từ tháng 12/2016 đến nay. Mẹ nuôi là bà Phạm Thị T tự nguyện chấm dứt việc nuôi con nuôi; Mặt khác trong cuộc sống hiện tại cháu T không chăm sóc, phụng dưỡng mẹ nuôi. Do đó việc chấm dứt nuôi con nuôi theo yêu cầu của bà Phạm Thị T và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 25 Luật nuôi con nuôi. Vì vậy căn cứ vào quy định tại khoản 1 điều 25 Luật nuôi con nuôi chấp nhận yêu cầu về việc chấm dứt việc nuôi con nuôi của mẹ nuôi là bà Phạm Thị T đối với con nuôi là cháu Lê Văn T. Quyền và nghĩa vụ giữa mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt theo quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật nuôi con nuôi. Giao con nuôi chưa thành niên là cháu Lê Văn T cho mẹ đẻ là chị Dư Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục theo quy định tại khoản 2 điều 27 Luật nuôi con nuôi. Quyền và nghĩa vụ của mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định tại khoản 4 điều 24 Luật nuôi con nuôi được khôi phục theo quy định tại khoản 3 điều 27 Luật nuôi con nuôi.
Về lệ phí: Bà T phải chịu lệ phí theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Khoản 1 điều 25; Khoản 1, 2, 3 điều 27 Luật nuôi con nuôi ; Điều 370; 371; 372 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Tuyên bố: Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa mẹ nuôi là bà Phạm Thị T; Sinh năm 1958, cư trú tại: Thôn M 1 xã B, huyện T, tỉnh T đối với con nuôi là cháu Lê Văn T; Sinh ngày 07/01/2005 Cư trú tại: Khu 9 thị trấn T, huyện T, tỉnh T.
Quyền và nghĩa vụ giữa mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày Quyết định chấm dứt nuôi con nuôi có hiệu lực pháp luật.
Giao con nuôi chưa thành niên là cháu Lê Văn T cho mẹ đẻ là chị Dư Thị L chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Quyền và nghĩa vụ của mẹ đẻ đã chấm dứt theo quy định tại khoản 4 điều 24 Luật nuôi con nuôi được khôi phục.
- Lệ phí giải quyết việc dân sự: Căn cứ vào Điều 149 BLTTDS năm 2015 và khoản 1 điều 37 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí toà án của UBTVQH số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
Bà Phạm Thị T phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ đã nộp tạm ứng lệ phí theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2016/0000842 ngày 23/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T.
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo quyết định này trong hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày ra quyết định
| Nơi nhận : - VKSND; - THA Dân sự; - Phòng Giám đốc án; - Đương sự; - UBND xã Bắc L, huyện T, tỉnh T - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Thị Hằng |