- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng góp hụi giữa nguyên đơn bà A với bị đơn ông B"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của bị đơn ông B đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2018/DS-ST ngày 23 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Sóc Trăng.
- Căn cứ chính? Điều 275 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 13/2018/QĐ-PT | Sóc Trăng, ngày 27 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
KHÔNG CHẤP NHẬN VIỆC KHÁNG CÁO QUÁ HẠN
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
Với Hội đồng xét kháng cáo quá hạn gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Võ Hoàng Anh.
- Các Thẩm phán: 1. Ông Lê Thanh Vũ.
2. Bà Tôn Thị Thanh Thúy.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Văn Sạch - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 09 tháng 11 năm 2018 bị đơn ông B nộp đơn kháng cáo quá hạn (đơn đề cùng ngày 09 tháng 11 năm 2018) trực tiếp cho Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Sóc Trăng) để kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2018/DS-ST ngày 23 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Sóc Trăng, với nội dung: Ông yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà A về việc buộc ông phải trả số tiền 15.620.000đồng, vì số tiền hụi này sau khi hốt hụi được 06 ngày thì ông đã giao cho bà A xong.
XÉT THẤY:
Việc kháng cáo của ông B là quá thời hạn quy định tại Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc kháng cáo quá hạn: Qua xem xét tài liệu chứng minh cho việc kháng cáo quá hạn có trong hồ sơ, thể hiện vào ngày 23/10/2018 Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Sóc Trăng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án “Tranh chấp hợp đồng góp hụi” giữa nguyên đơn bà A với bị đơn ông B cùng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông C, bà D và tuyên án cùng ngày 23/10/2018. Ông B có mặt tại phiên tòa sơ thẩm từ lúc khai mạc phiên tòa cho đến khi kết thúc phiên tòa, kể cả thời điểm Hội đồng xét xử tuyên án và ông B cũng được nghe Chủ tọa phiên tòa giải thích về quyền và thời hạn kháng cáo của đương sự có mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (nội dung phần quyết định của bản án sơ thẩm cũng có nêu về thời hạn kháng cáo này). Mặt khác, sau khi xét xử sơ thẩm Tòa án cấp sơ thẩm cũng đã thực hiện cấp, tống đạt bản án sơ thẩm cho ông B nhận vào ngày 05/11/2018, ông B xác nhận sau khi ông E là con ruột của ông B nhận thay bản án sơ thẩm cho ông B thì có giao lại cho ông B là còn trong thời hạn kháng cáo. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án vào ngày 23/10/2018 nên tính đến hết ngày 07/11/2018 là hết thời hạn kháng cáo, nhưng mãi đến ngày 09/11/2018 ông B mới nộp đơn kháng cáo là trễ hạn 02 ngày so với quy định của pháp luật.
Theo nội dung Biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 16/11/2018 (BL số 13) ông B trình bày lý do ông kháng cáo quá hạn là do từ lúc Tòa án xét xử sơ thẩm vụ án vào ngày 23/10/2018 ông ở nhà được 02 ngày (24 và 25/10/2018), sau đó do ông thường xuyên bị bệnh nên phải nằm viện điều trị tại Bệnh viện F cho đến ngày 09/11/2018, do vào ngày 08/11/2018 ông trốn viện để về làm đơn kháng cáo nên Bệnh viện F không cấp cho ông giấy xuất viện, tiếp theo đó ông lại đi điều trị bệnh tại Bệnh viện G từ ngày 09/11/2018 cho đến ngày 12/11/2018, ông đã cung cấp cho Tòa án các giấy tờ của Bệnh viện G để chứng minh.
Xét thấy, các chứng cứ do ông B cung cấp gồm 02 Hóa đơn bán hàng, 01 Phiếu tiếp đón, 01 Đơn thuốc, 01 Phiếu chiếu/chụp X-quang cùng ngày 12/11/2018 và 01 Phiếu chiếu/chụp X-quang ngày 22/8/2017 (BL số 6, 6a, 7, 8, 9, 9a) đều được Bệnh viện G cấp cho ông B tại các thời điểm nằm ngoài khoảng thời gian ông B được quyền kháng cáo (từ ngày 23/10/2018 đến ngày 07/11/2018). Hơn nữa, các chứng cứ này cũng không chứng minh được việc ông B bị bệnh phải nằm viện điều trị tại Bệnh viện G trong khoảng thời gian ông B được quyền kháng cáo nêu trên, nên không có cơ sở để xem xét.
Ngoài ra, ông B cũng không cung cấp được chứng cứ gì để chứng minh trong khoảng thời gian ông B được quyền kháng cáo nêu trên ông B đang nằm viện điều trị tại Bệnh viện F cũng như việc ông B đã trốn viện về để làm đơn kháng cáo vào ngày 08/11/2018 nên Bệnh viện F không cấp cho ông giấy xuất viện như ông B đã trình bày.
Từ những phân tích nêu trên, đối chiếu với hướng dẫn tại Điều 6 Nghị quyết số 06/2012/NQ-HĐTP, ngày 03/12/2012 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc kháng cáo quá hạn được xem là có lý do chính đáng khi thuộc “trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác (như: do thiên tai, lũ lụt; do ốm đau, tai nạn phải điều trị tại bệnh viện,...) làm cho người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo trong thời hạn luật định” thì lý do kháng cáo quá hạn mà ông B đưa ra là không chính đáng, nên không được Hội đồng xét kháng cáo quá hạn chấp nhận.
Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng phát biểu ý kiến về việc tuân thủ pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét kháng cáo quá hạn kể từ khi thụ lý đến khi mở phiên họp và tại phiên họp, phát biểu về nội dung kháng cáo quá hạn và cho rằng lý do kháng cáo quá hạn mà ông B đưa ra là không chính đáng, đề nghị Hội đồng xét kháng cáo quá hạn không chấp nhận kháng cáo quá hạn của ông B.
Căn cứ vào Điều 275 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận việc kháng cáo quá hạn của bị đơn ông B đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 52/2018/DS-ST ngày 23 tháng 10 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Z, tỉnh Sóc Trăng.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT KHÁNG CÁO QUÁ HẠN
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN HỌP
| Nơi nhận: - TAND huyện Z; - VKSND tỉnh Sóc Trăng; - Ông B; - Lưu hồ sơ vụ án. | Võ Hoàng Anh |