- Tranh chấp gì? "Người khởi kiện: ông Dương Sỹ H, sinh năm 1952; địa chỉ: số nhà B đường Q, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Sỹ H.
- Căn cứ chính? Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 243 Luật Tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 128/2023/QĐ-PT | Đà Nẵng, ngày 10 tháng 5 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI ĐÀ NẴNG
Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: ông Trần Quốc Cường
Các Thẩm phán:
ông Nguyễn Văn Tiến
ông Nguyễn Cường
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng tham gia phiên toà: ông Đinh Văn Chánh – Kiểm sát viên
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 50/2022/QĐST-HC ngày 08/9/2022. Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định đã căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 116; điểm g khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc „Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”, giữa:
1. Người khởi kiện: ông Dương Sỹ H, sinh năm 1952; địa chỉ: số nhà B đường Q, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định;
2. Người bị kiện: Ủy ban nhân dân thị xã A, tỉnh Bình Định;
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định;
- bà Dương Thị H1, sinh năm 1960;
- ông Dương Đình Â, sinh năm 1960;
- ông Dương Ái G C), sinh năm 1963;
- ông Dương Đình H2, sinh năm 1969;
- Vợ chồng ông Dương Sỹ N, sinh năm 1964 và bà Võ Thị H3, sinh năm 1966;
Cùng địa chỉ: thôn T, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
- ông Dương Sỹ N1, sinh năm 1956; địa chỉ: thôn B, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định;
- bà Dương Thị Kim P, sinh năm 1949; địa chỉ: thôn V, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định;
- bà Dương Thị H4, sinh năm 1945;
- ông Dương Đình Q, sinh năm 1954;
- ông Dương Đình T, sinh năm 1962;
Cùng địa chỉ: thôn A, xã N, thị xã A, tỉnh Bình Định.
Ngày 14 tháng 9 năm 2022 Toà án nhân dân tỉnh Bình Định nhận được đơn kháng cáo của ông Dương Sỹ H với nội dung: đề nghị Toà án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm huỷ Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 50/2022/QĐST-HC ngày 08/9/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định để giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.
Tại phiên toà Kiểm sát viên phát biểu: ngày 03/8/2020 ông Dương Sỹ H đã nhận và biết GCNQSDĐ số 00560 QSDĐ/I3 ngày 25/10/1993 được UBND huyện A (nay là thị xã A) cấp cho ông Dương Sỹ N tại thửa đất số 980, tờ bản đồ số 8, diện tích 782m2 (trong đó 200m2 đất ở và 582m2 đất vườn). Ngày 24/11/2021 Toà án nhân dân tỉnh Bình Định nhận được đơn khởi kiện của ông Dương Sỹ H yêu cầu huỷ GCNQSDĐ số 00560 QSDĐ/I3 ngày 25/10/1993 là hết thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Toà án nhân dân tỉnh Bình Định áp dụng điểm g khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính để đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của ông Dương Sỹ H, giữ nguyên quyết định của Toà án cấp sơ thẩm.
XÉT THẤY:
Ngày 24/11/2021 Toà án nhân dân tỉnh Bình Định nhận được đơn khởi kiện của ông Dương Sỹ H (đơn đề ngày 20/11/2021; 13/01/2022; 11/02/2022) yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00560 QSDĐ/I3 ngày 25/10/1993 được UBND huyện A (nay là thị xã A) cấp cho ông Dương Sỹ N tại thửa đất số 980, tờ bản đồ số 8, diện tích 782m2 (trong đó 200m2 đất ở và 582m2 đất vườn).
Trong quá trình Toà án nhân dân tỉnh Bình Định giải quyết vụ án, theo nội dung đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 21/02/2022 và Biên bản lấy lời khai ngày 17/6/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Định đối với ông Dương Sỹ H đều thể hiện nội dung: “Ngày 03/8/2020 Ủy ban nhân dân xã N mời ông Dương Sỹ H, ông Dương Sỹ N đến Ủy ban nhân dân xã N để hoà giải về tranh chấp đất đai và ông Dương Sỹ H được ông Dương Sỹ N cung cấp GCNQSDĐ số 00560 QSDĐ/I3 ngày 25/10/1993 được UBND huyện A (nay là thị xã A) cấp cho ông Dương Sỹ N tại thửa đất số 980, tờ bản đồ số 8, diện tích 782m2 (trong đó 200m2 đất ở và 582m2 đất vườn)”.
Ngày 03/8/2020 ông Dương Sỹ H làm đơn yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp di sản thừa kế gửi UBND xã N. Ngày 25/9/2020 Ủy ban nhân dân xã N kết luận đơn yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp di sản thừa kế gửi cho ông Dương Sỹ H nhận ngày 25/9/2020 và hướng dẫn ông khởi kiện tại Toà án nhân dân thị xã An Nhơn nhưng ông H không khởi kiện. Ngày 05/11/2021 ông Dương Sỹ H nộp trực tiếp đơn khởi kiện về việc yêu cầu chia di sản thừa kế tại Toà án nhân dân thị xã An Nhơn. Ngày 16/11/2021 ông Dương Sỹ H ký đơn rút đơn khởi kiện đã nộp ngày 05/11/2021 tại Toà án nhân dân thị xã An Nhơn.
Như vậy, xác định ngày 03/8/2020 ông Dương Sỹ H đã nhận và biết GCNQSDĐ số 00560 QSDĐ/I3 ngày 25/10/1993 được UBND huyện A (nay là thị xã A) cấp cho ông Dương Sỹ N tại thửa đất số 980, tờ bản đồ số 8, diện tích 782m2 (trong đó 200m2 đất ở và 582m2 đất vườn)”. Do đó, ngày 24/11/2021 Toà án nhân dân tỉnh Bình Định nhận được đơn khởi kiện của ông Dương Sỹ H (đơn đề ngày 20/11/2021; 13/01/2022; 11/02/2022) yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00560 QSDĐ/I3 ngày 25/10/1993 được UBND huyện A (nay là thị xã A) cấp cho ông Dương Sĩ N2 tại thửa đất số 980, tờ bản đồ số 8, diện tích 782m2 (trong đó 200m2 đất ở và 582m2 đất vườn) là hết thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Do đó, Toà án nhân dân tỉnh Bình Định căn cứ điểm g khoản 1 Điều 143 Luật Tố tụng hành chính để đình chỉ giải quyết vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của ông Dương Sỹ H, giữ nguyên quyết định của Toà án cấp sơ thẩm.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 243 của Luật Tố tụng hành chính.
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Sỹ H.
1. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính số 50/2022/QĐST-HC ngày 08 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
2. Án phí hành chính phúc thẩm: ông Dương Sỹ H là người cao tuổi nên được miễn theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2014 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.
Thành viên Hội đồng xét xử
| (Đã ký) Nguyễn Văn Tiến Nguyễn Cường | Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Quốc Cường |