vanban.org

Quyết định 127/2021/QĐPT-HC — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 08/02/2021 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 08/02/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Quang B, bà Nguyễn Thị T1; Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 07/2020/QĐST-HC ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh T.

Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Ngô Quang B, bà Nguyễn Thị T1. Hoàn trả ông B, bà T1 300.000 đồng đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm tại Biên lai số 0004685 ngày 22/9/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh T. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Quyết định giải quyết việc kháng cáo đối với quyết định đình chỉ giải quyết vụ án"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Quang B, bà Nguyễn Thị T1; Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 07/2020/QĐST-HC ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh T.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Luật tố tụng hành chính; Điều 143 Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 127/2021/QĐPT-HCHà Nội, ngày 08 tháng 02 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO

ĐỐI VỚI QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Bùi Xuân Trọng;

Các thẩm phán: Ông Nguyễn Vũ Đông;

Ông Võ Hồng Sơn.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông Đỗ Ngọc Chuyền, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tham gia phiên họp: Ông Lê Song Lê và ông Nguyễn Văn Tuyến, Kiểm sát viên.

Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 07/2020/QĐST-HC ngày 25 tháng 8 năm 2020, Tòa án nhân dân tỉnh T đã căn cứ vào khoản 5 Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 143; Điều 144 Luật tố tụng hành chính quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về việc “khiếu kiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, giữa:

* Người khởi kiện: Ông Ngô Quang B, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1969;

Cùng địa chỉ: Thôn 2 T3, xã T2, huyện H, tỉnh T.

* Người bị kiện: Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh T.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ủy ban nhân dân xã T2, huyện H, tỉnh T.

- Ông Nông Xuân T4, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn 1 T3, xã T2, huyện H, tỉnh T.

Tại đơn kháng cáo đề ngày 07 tháng 9 năm 2020, người khởi kiện đề nghị hủy Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án số 07/2020/QĐST-HC ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh T.

XÉT THẤY:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:

Ngày 31/11/2007, hộ ông Nông Xuân T4 được Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 000286 thửa 619, tờ bản đồ số 23, diện tích 231m2.

Ngày 06/4/2020, ông Ngô Quang B và bà Nguyễn Thị T1 có đơn khởi kiện đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông T4.

Tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện ông B, bà T1 đã thừa nhận biết việc hộ ông T4 được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2008. Ngoài ra, trong năm 2008, ông B, bà T1 đã nhận 10 triệu đồng của ông T4 và cam đoan không khiếu kiện đến mảnh đất của ông T4 đang sử dụng.

Theo quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án hành chính tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính quy định: “…01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính…”. Ông B, bà T1 đã biết việc hộ ông T4 được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 2008. Lẽ ra, trong thời hạn 01 năm kể từ ngày biết được hộ ông T4 được Ủy ban nhân dân huyện H cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông B, bà T1 phải nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tới Tòa án nhưng đến năm 2020, ông B, bà T1 mới nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính là quá thời hiệu theo quy định của pháp luật. Do thời hiệu khởi kiện đã hết nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm g khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính đình chỉ giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật.

Vì vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Quang B, bà Nguyễn Thị T1; giữ nguyên quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính của Tòa án cấp sơ thẩm.

Do ông B, bà T1 sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế khó khăn nên miễn án phí phúc thẩm cho ông B, bà T1.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 243 Luật tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án:

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Quang B, bà Nguyễn Thị T1; Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 07/2020/QĐST-HC ngày 25 tháng 8 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh T.

2. Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Ngô Quang B, bà Nguyễn Thị T1. Hoàn trả ông B, bà T1 300.000 đồng đã nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm tại Biên lai số 0004685 ngày 22/9/2020 của Cục thi hành án dân sự tỉnh T.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

Cỡ chữ