- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chị G ly hôn anh L"
- Tòa quyết gì? Áp dụng vào các Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY TỈNH TIỀN G | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 126/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27/05/2024. V/v tranh chấp: xin ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ CÔNG TÂY
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thu Hồng
2. Bà Nguyễn Thị Mỹ Hoa
- Thư ký phiên tòa: bà Trần Thị Ngọc Thúy, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Công Tây tham gia phiên Tòa: ông Nguyễn Văn Quí - Kiểm sát viên
Trong ngày 27 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Công Tây xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 60/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/03/2024 về việc “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐST- HNGĐ ngày 10/05/2023 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị LÊ THỊ CẨM G - sinh năm 1992.
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện G, Tiền G.
* Bị đơn: Anh LÊ THÀNH L - sinh năm 1989.
Địa chỉ: ấp T, xã V, huyện G, Tiền G
Tạm trú: ấp P, xã V, huyện G, tỉnh Tiền G
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn của nguyên đơn Lê Thị Cẩm G trình bày: chị và anh Lê Thành L cưới nhau năm 2018, có sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T năm 2018. Sau khi cưới chị và anh L sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hết tình cảm. Đời sống chung kéo dài đến tháng 5/2023 thì chị và anh L sống ly thân cho đến ngày 10/12/2023 vợ chồng về sống chung, đến đầu năm 2024 thì sống ly thân cho đến nay. Nay chị G yêu cầu xin ly hôn với anh L.
- Về con chung: có 2 cháu tên Lê Ngọc Nhã P – sinh ngày 19/4/2019 và Lê Ngọc Kim N – sinh ngày 05/9/2021. Hiện hai cháu P và cháu N đang sống với chị G. Nếu ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng hai cháu P và N. không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: không có.
* Tại văn bản lời khai của bị đơn anh Lê Thành L trình bày: anh và chị Lê Thị Cẩm G cưới nhau năm 2018, có sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T năm 2018. Sau khi cưới anh và chị G sống hạnh phúc đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, hết tình cảm. Đời sống chung kéo dài đầu năm 2024 thì sống ly thân cho đến nay. Nay chị G yêu cầu xin ly hôn với anh L, phía anh L không đồng ý ly hôn.
- Về con chung: có 2 cháu tên Lê Ngọc Nhã P – sinh ngày 19/4/2019 và Lê Ngọc Kim N – sinh ngày 05/9/2021. Hiện hai cháu P và cháu N đang sống với chị G. Nếu ly hôn anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu P và để chị G nuôi dưỡng cháu N. không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.
- Về nợ chung: không có.
Tại phiên tòa hôm nay:
Nguyên đơn chị Lê Thị Cẩm G vẫn giữa nguyên yêu cầu xin ly hôn với anh Lê Thành L; về con chung: chị G yêu cầu được nuôi dưỡng 2 cháu tên Lê Ngọc Nhã P – sinh ngày 19/4/2019 và Lê Ngọc Kim N – sinh ngày 05/9/2021, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết; về nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Lê Thành L đồng ý ly hôn với chị Lê Thị Cẩm G; về con chung: nếu ly hôn anh yêu cầu được nuôi dưỡng cháu P và để chị G nuôi dưỡng cháu N, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết; về nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng pháp luật tố tụng dân sự và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Cẩm G; về con chung: giao cho chị Lê Thị Cẩm G được tiếp tục nuôi dưỡng 02 cháu tên Lê Ngọc Nhã P – sinh ngày 19/4/2019 và Lê Ngọc Kim N – sinh ngày 05/9/2021, anh Lê Thành L không phải cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, bị đơn và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử xác định quan hệ đang tranh chấp là “xin ly hôn”.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Cẩm G là có cơ sở. Vì chị Lê Thị Cẩm G và anh Lê Thành L cưới nhau vào năm 2018, được sự tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T số 87 ngày 08/10/2018. Sau khi cưới chị G và anh L sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vào tháng 11/2023 chị G có đơn yêu cầu xin ly hôn, sau đó chị G rút đơn xin ly hôn để chị G và anh L đoàn tụ, hàn gắn tình cảm, nhưng không thành. Đến đầu năm 2024 chị G và anh L tiếp tục phát sinh mâu thuẫn nên chị G và anh L sống ly thân từ đó cho đến nay, mà giữa chị G, anh L vẫn không hàn gắn được tình cảm. Cho thấy mâu thuẫn giữa chị G và anh L đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được, đời sống chung không thể kéo dài. Tại phiên tòa, anh L cũng đồng ý ly hôn với chị G. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị G và anh L là phù hợp với Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: chị G yêu cầu được nuôi dưỡng 02 cháu Lê Ngọc Nhã P – sinh ngày 19/4/2019 và Lê Ngọc Kim N – sinh ngày 05/9/2021. Xét yêu cầu của chị G là có cơ sở vì hiện tại hai cháu P và N đang sống với chị G đã ổn định cuộc sống, nếu thay đổi sẽ ảnh hưởng tâm lý cũng như sinh hoạt bình thường của hai cháu. Đồng thời cháu N chưa đủ 3 tuổi và hai cháu P, N là cháu gái nên việc chăm sóc hai cháu giao cho chị G sẽ đảm bảo hơn so với anh L. Hiện tại anh L đang sống nhà trọ trong khi chị G có nhà riêng, nên nếu giao cháu P cho anh L nuôi dưỡng sẽ không đảm bảo quyền lợi của cháu P. Do đó để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho hai cháu P và N, Hội đồng xét xử quyết định giao hai cháu P và N cho chị G nuôi dưỡng là phù với Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: chị G không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: chị G và anh L không yêu cầu giải quyết nên không xem xét, nếu sau này chị G và anh L có tranh chấp thì giải quyết bằng vụ án khác.
Về nợ chung: không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: do chị G là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chị G phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào các Điều 175, 177, 235 Bộ luật tố tụng dân sự
- Áp dụng vào các Điều 55, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị Cẩm G.
Ghi nhận sự tự nguyện ly hôn giữa chị Lê Thị Cẩm G và anh Lê Thành L.
- Về con chung: giao cho chị Lê Thị Cẩm G được tiếp tục nuôi dưỡng hai cháu Lê Ngọc Nhã P – sinh ngày 19/4/2019 và Lê Ngọc Kim N – sinh ngày 05/9/2021 cho đến khi hai cháu P và N đủ 18 tuổi, lao động được. Anh Lê Thành L không phải cấp dưỡng nuôi con. Anh Lê Thành L được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
- Về án phí: chị Lê Thị Cẩm G phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị G đã nộp theo biên lai thu số 0009332 ngày 26/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, do vậy chị G đã nộp xong án phí.
Báo các đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
| Nơi nhận: - VKSND huyện Gò Công Tây; - Lưu hồ sơ; - Lưu án văn; - THADS huyện Gò Công Tây; - UBND xã T - Các đương sự. | Nguyễn Văn Tuấn Anh |