- Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị V.
- Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:126/2021/QĐST-VDS | TP.Cà Mau, ngày 27 tháng 5 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v Yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Bà Trần Huyền Trân. Thư ký phiên tòa: Ông Trần Đình Chưởng – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Cà Mau. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau tham gia phiên họp: Bà Lê Thị Ngọc Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2021, tại tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 79/2021/TLST-VDS ngày 25 tháng 3 năm 2021 về việc yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi, theo quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 297/2021/QĐST – HNGĐ ngày 21 tháng 4 năm 2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp H, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháo của bà Nguyễn Thị V: Ông Lê Anh T là luật sư của Văn phòng luật sư Lê Anh T thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (Có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nhân Minh C, sinh năm: 2010 (Vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp H, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
2.Trung tâm B tỉnh Cà Mau.
Địa chỉ: Ấp E, xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quốc B - Chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T – Phó Giám đốc Trung tâm B tỉnh Cà Mau (Có mặt).
3. Ông Nguyễn Trung T, sinh năm 1974 (vắng mặt).
Địa chỉ: Khóm A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu ngày 22 tháng 3 năm 2021, các lời khai trong quá trình giải quyết việc dân sự và tại phiên họp bà Nguyễn Thị V trình bày: Vào năm 2013 bà Nguyễn Thị V và chồng là ông Nguyễn Trung T đến Trung tâm B tỉnh Cà Mau để làm thủ tục nhận nuôi con nuôi đối với cháu C. Ngày 21/5/2013 Ủy ban nhân dân Xã B, thành phố C cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi đối với C cho bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Trung T. Khi cháu C về ở với bà, bà có đặt tên gọi thường ngày cho cháu là C.
Trong quá trình nuôi dạy cháu C, mặc dù bà đã hết lòng dạy dỗ nhưng cháu C càng lớn càng quậy phá, ngổ nghịch không nghe lời khuyên răn, dạy dỗ của cha mẹ.
Năm 2018 bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Trung T ly hôn, bà V tiếp tục nuôi dưỡng cháu C nhưng cháu C ngày càng quậy phá, trộm cắp tiền của bà và của những người xung quanh bà không thể chịu nổi. Bà có liên hệ với Trung tâm B tỉnh Cà Mau để giao trả cháu C cho Trung tâm thì Trung tâm Btỉnh Cà Mau cho rằng phải có quyết định của Tòa án thì mới nhận lại cháu C.
Nay bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được chấm dứt nuôi con nuôi đối với cháu C. Giao cháu Nhân Minh C về cho Trung tâm B tỉnh Cà Mau tiếp tục nuôi dưỡng.
Tại biên bản làm việc ngày 17/5/2021 cháu C trình bày: Cháu C, sinh ngày 25/3/2010 là con nuôi của bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Trung T, hiện nay bà V và ông T đã ly hôn. Cháu từng ăn cắp tiền của bà V không nhớ rõ số lần và bao nhiêu tiền. Ngoài ra cháu còn đến tiệm tạp hóa để ăp cắp nước ngọt và vài món đồ khác không nhớ rõ. Cháu đã từng trộm bia để uống và trộm thuốc để hút. Hiện nay cháu có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ là bà Nguyễn Thị V. Cháu biết việc làm của mình là sai nên hứa sẽ ngoan và thay đổi tính T không ăn cắp tiền của bà V và ăn cắp đồ của người khác nữa.
Ông Nguyễn Văn T đại diện theo ủy quyền Trung tâm B tỉnh Cà Mau trình bày:
Ngày 29/3/2010 Trung tâm B tỉnh Cà Mau tiếp nhận 01 trẻ bị bỏ rơi vào ngày 29/3/2010 tại khoa sơ sinh thuộc Bệnh viện Sản Nhi tỉnh Cà Mau. Đến ngày 21/5/2013, Tại Ủy ban nhân dân xã Đ. Trung tâm B tỉnh Cà Mau làm lễ bàn giao con nuôi cho ông Nguyễn Trung T và bà Nguyễn Thị V. Ngày 28/5/2013, Giám đốc Trung tâm B ký quyết định số 19/QĐ-BTXH về việc cắt trợ cấp nuôi dưỡng đối với C từ ngày 21/5/2013. Từ khi Trung tâm B bàn giao cháu C cho ông Nguyễn Trung T và bà Nguyễn Thị V làm con nuôi theo quy định thì Trung tâm B không còn trách nhiệm quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu C. Nay bà V yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi đối với cháu C và yêu cầu giao cháu C về Trung tâm B nuôi dưỡng. Trung tâm thể hiện quan điểm là trường hợp bà V không tiếp tục nhận nuôi cháu C thì có thể yêu cầu gia đình, thân tộc hai bên nội, ngoại đỡ đầu để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu. Trường hợp Tòa án giao cháu C về cho Trung tâm B thì Trung tâm vẫn nhận nuôi cháu.
Đối với ông Nguyễn Trung T tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông để đến tham gia phiên họp nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không có văn bản phải hồi cho Tòa án. Do đó, Tòa án tiến hành mở phiên họp vắng mặt ông T theo quy định.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà V trình bày lời bảo vệ: Bà Nguyễn Thị V nhận cháu C về làm con nuôi năm 2013, trong quá trình nuôi dưỡng cháu C, mặc dù bà V đã hết lòng dạy bảo nhưng cháu C không nghe lời, ngỗ nghịch và thường xuyên trộm cắp tiền cũng như các tài sản khác của bà V và những người xung quanh. Hiện nay bà V và ông T đã ly hôn, bản thân bà V lại có bệnh trong người, không thể tiếp tục dạy dỗ cháu C được nữa nên mong Hội đồng xem xét chấp nhận yêu cầu của bà V.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau có ý kiến về việc giải quyết yêu cầu của đương sự như sau:Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật, không vi phạm.
Về nội dung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của bà V, giao cháu C về cho Trung tâm B tỉnh Cà Mau chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành để đảm bảo quyền lợi của cháu C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết việc dân sự: Yêu cầu của bà Nguyễn Thị V đối với cháu C. Căn cứ theo quy định tại khoản 5 Điều 29; điểm b khoản 2, Điều 35; điểm h khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 10; Điều 26 Luật nuôi con nuôi xác định đây là yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi. Hiện nay các đương sự cư trú tại thành phố Cà Mau nên vụ việc thuộc thẩm quyền của Tòa án thành phố Cà Mau.
Về thẩm quyền, trình tự thủ tục nuôi con nuôi: Năm 2013 bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Trung T có nhận cháu C là con nuôi theo Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 02/2013, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân Xã B, thành phố Ccấp ngày 21/5/2013 là phù hợp với quy định tại Điều 22 luật nuôi con nuôi.
Về việc vắng mặt của các đương sự: Ông Nguyễn Trung T, cháu C đã được tiến hành tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án giải quyết vắng mặt ông T và cháu C theo quy định.
Về yêu cầu của đương sự: Bà Nguyễn Thị V yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi đối với Nhân Minh C. Năm 2013, bà V, ông T có nhận cháu C làm con nuôi theo giấy chứng nhận số 02/2013, quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân Xã B, thành phố Ccấp ngày 21/5/2013. Sau khi nhận nuôi con nuôi cháu C về ở với bà V, ông T đến năm 2018 bà V và ông T ly hôn, cháu Chiên về ở với bà V cho đến nay. Xét thấy, trong quá trình sống với bà V cháu C trộm cắp tiền của bà V nhiều lần, đây là hành vi phá tán tài sản của bà V, không nghe lời day bảo của bà V còn đi trộm cắp của những người xung quanh khiến cho mâu thuẩn giữa mẹ con ngày càng trầm trọng, hàng xóm cùng với chính quyền địa phương đã nhiều lần khuyên bảo nhưng cháu C vẫn không thay đổi. Thấy rằng mặc dù hiện nay cháu C có ý kiến mong muốn được tiếp tục sống với bà V và hứa sẽ sửa chữa nhưng bà V đã xác định hiện nay bản thân bà có nhiều bệnh, kinh tế khó khăn, bà không thể dạy dỗ cháu C được, bà không thể đối xử với cháu C như con đẻ được, đối với những hành vi trộm cắp tiền của cháu C làm thất thoát tài sản của bà nên bà không thể chấp nhận tiếp tục nuôi cháu C được nữa. Ngoài ra tại hồ sơ còn thể hiện trong quá trình cháu C chung sống có dùng dao để uy hiếp bà V, bà V đã trình báo Công an và được xác nhận của Công an xã Hòa Thành, thành phố Cà Mau và xác nhận của những người hàng xóm xung quanh.
Đối với Trung tâm Btỉnh Cà Mau xác định có làm thủ tục cho bà V và ông T nhận nuôi con nuôi đối với cháu C, hiện nay bà V yêu cầu chấm dứt nuôi con nuôi đối với cháu C, hiện nay cháu C V chưa thành niên. Trường hợp Tòa án giao về cho Trung tâm Btiếp tục nuôi dưỡng Cháu C thì Trung tâm cũng đồng ý tiếp nhận cháu.
Từ những nhận định như trên nhận thấy yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà V đối với C là có căn cứ và phù hợp với quy định nên được chấp nhận.
Về lệ phí việc dân sự: Bà Nguyễn Thị V phải chị lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 5 Điều 29, điểm b, khoản 2 Điều 35, điểm l, khoản 2, Điều 39, Điều 367, Điều 371, Điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 10, 24, 25, 26, 27 Luật nuôi con nuôi;
Căn cứ Điều 78 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà Nguyễn Thị V.
1. Tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa mẹ nuôi là bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1974; cư trú tại: Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau đối với con nuôi Nhân Minh C, sinh năm 2010 chỗ ở hiện nay Ấp T, xã H, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Quyền và nghĩa vụ giữa mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định này có hiệu lực.
2. Giao cháu Nhân Minh C cho Trung tâm B tỉnh Cà Mau tiếp nhận và nuôi dưỡng cho đến khi cháu C đủ 18 tuổi.
3. Lệ phí Tòa án: Bà Nguyễn Thị V phải chịu. Ngày 25/3/2021 bà V đã nộp tạm ứng số tiền 300.000 đồng theo biên lai số 0000851 được chuyển thu.
3. Quyền kháng cáo, kháng Nghị: Viện kiểm sát có quyền kháng nghị, bà Nguyễn Thị V, Trung tâm B tỉnh Cà Mau có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày công bố quyết định. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND thành phố Cà Mau; - Chi cục THADS thành phố Cà Mau; - UBND xã Đ, thành phố C, tỉnh Cà Mau; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Đã Ký Trần Huyền Trân |