- Tranh chấp gì? "Đỗ Thị L kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị L.
- Căn cứ chính? Điều 143 Luật tố tụng hành chính ra; Điều 243 Luật tố tụng hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 125/2021/QĐ-PT | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 3 năm 2021 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp: Ông Lê Thành Long
Các Thẩm phán:
Ông Vũ Ngọc Huynh
Ông Phan Đức Phương
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 67/2020/QĐST-HC ngày 29/9/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai đã căn cứ vào điểm g khoản 1 Điều 143 Luật tố tụng hành chính ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính “Khởi kiện yêu cầu hủy phần liên quan trong quyết định hành chính về lĩnh vực đất đai”, giữa:
- Người khởi kiện: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1957;
Địa chỉ: Ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Người bị kiện: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ;
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ: Ông Võ Văn C – Phó chủ tịch.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Đỗ Ngọc Thiên C, sinh năm 1992;
Địa chỉ: 292 ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của chị C: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1957;
Địa chỉ: Ấp P, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Ngày 19/10/2020, người khởi kiện bà Đỗ Thị L làm đơn kháng cáo yêu cầu hủy quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên.
XÉT THẤY:
Theo Giấy xác nhận nguồn gốc đất (Mẫu 5), thể hiện: “…Nguồn gốc: Do bà Dương Thị C khai phá năm 1975, làm nhà ở ổn định và canh tác cho đến nay, ủy quyền cho bà Đỗ Thị L đứng ra kê khai…” (BL 116). Do đó, Hội đồng bồi thường đã triển khai công tác thu hồi, bồi thường, hỗ trợ đối với gia đình bà Đỗ Thị L. Tòa án cấp sơ thẩm xác định người khởi kiện là bà Đỗ Thị L và không xác định những người con của ông Đỗ Văn N (chết năm 1912) và bà Dương Thị C (chết năm 2004) là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, là có căn cứ.
Xét, Phiếu chi số 29/2005 ngày 19/4/2005 về việc thanh toán tiền bồi thường theo Quyết định số 2336/UBT ngày 7/8/2003 (số tiền 125.875.000 đồng) và Phiếu chi số 30/2005 ngày 19/4/2005 về việc thanh toán tiền hỗ trợ thuê nhà theo Quyết định số 2336/UBT ngày 7/8/2003 (số tiền 3.600.000 đồng), có chữ viết và chữ ký của bà Đỗ Thị L tại phần người nhận tiền (BL 268, 269); phù hợp với lời khai nhận của bà Đỗ Thị L tại Biên bản làm việc ngày 8/5/2020 (BL 220). Do đó, có căn cứ để khẳng định từ ngày 19/4/2005 thì bà L đã biết việc Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Quyết định số 2336/UBT ngày 7/8/2003.
Tuy nhiên, đến ngày 11/7/2017 bà Đỗ Thị L khởi kiện Quyết định số 2336/QĐ.CT-UBT ngày 7/8/2003 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, là quá thời hiệu thời kiện theo quy định điểm a khoản 2 Điều 116 của Luật Tố tụng hành chính và Điều 2 Nghị quyết 104/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội. Đồng thời, bà L cũng không xuất trình được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc khởi kiện quá thời hiệu khởi kiện là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan theo quy định khoản 4 Điều 116 Luật tố tụng hành chính. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm quyết định đình chỉ giải quyết vụ án nêu trên là có căn cứ.
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 243 của Luật tố tụng hành chính,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đỗ Thị L.
Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 67/2020/QĐST-HC ngày 29/9/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
2. Án phí hành chính phúc thẩm: Bà Đỗ Thị L được miễn nộp tiền án phí hành chính phúc thẩm.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ký ban hành.
| Nơi nhận: - TANDTC; - VKSNDCC tại TP HCM; - TAND tỉnh Đồng Nai; - VKSND tỉnh Đồng Nai; - Cục THADS tỉnh Đồng Nai; - Các đương sự (3); - Lưu VP (6). HS (2). T/18 (QĐ 36). | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Lê Thành Long |