- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "A"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà A.
- Căn cứ chính? Điều 71 Bộ luật Dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 1236/2020/QĐST - DS Ngày: 14/8/2020. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: “Tuyên bố một người là đã chết”.
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Thu.
Thư ký phiên họp:Bà Đỗ Thanh Thảo Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Hà Thanh Bình - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 675/2019/TLST- DS ngày 22 tháng 10 năm 2019 về việc:“Tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp số:3684/2020/QĐST- DS ngày 17 tháng 7 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà A, sinh năm 1962 (Có mặt).
Địa chỉ:137/69 Đường Đ1, Phường P1, Quận Q1, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1.Bà B, sinh năm 1956 (Có mặt);
Địa chỉ: 137/69 Đường Đ1, Phường P1, Quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh.
2.Ông C, sinh năm 1957;
Địa chỉ: 07, 72275 Đường Đ2, CH Đức.
3. Bà D, sinh năm 1960;
Địa chỉ: 9127 Đường Đ3, Hoa Kỳ.
Ông C và bà D ủy quyền bà E, sinh năm 1959 - Đại diện (Có mặt).
Địa chỉ: 79 Đường Đ4, Phường P2, quận Q2, Thành phố Hồ Chí Minh.
4.Bà E, sinh năm 1959 (Có mặt).
Địa chỉ: 79 Đường Đ4, Phường P2, quận Q2, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo bà A là người yêu cầu giải quyết việc dân sự trình bày: Ông G (chết năm 1985) và bà H (chết năm 2015). Ông G và bà H có tất cả 06 người con, gồm: B, C, E, D, A và I.
Từ nhỏ bà I sống cùng gia đình tại nhà 137/69 Đường Đ5, Phường P1, Quận Q3, nay là 137/69 Đường Đ1, phường P1, Quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 30/3/1973 khi I được 5 tuổi thì căn nhà 137/69 Đường Đ5, Phường P1, Quận 2 bị cháy đúng vào ngày I bị bệnh nghỉ học ở nhà một mình. Từ ngày nhà bị cháy gia đình đã tìm kiếm nhưng không có tin tức gì của bà I. Nay, bà A yêu cầu Tòa án tuyên bố bà I, sinh năm 1968, Nơi cư trú cuối cùng:137/69 Đường Đ1, phường P1, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.
Bà B, bà E; đồng thời bà E đại diện theo ủy quyền ông C và bà D là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày: Bà Thu, ông C, bà E và bà D có cùng lời trình bày của bà A và đồng ý với yêu cầu của bà A.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu - đề nghị: Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà A tuyên bố bà I, sinh năm 1968, Nơi cư trú cuối cùng: 137/69 Đường Đ1, phường P1, Quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Bà A có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà I, sinh năm 1968, Nơi cư trú cuối cùng:137/69 Đường Đ1, phường P1, Quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh đã chết. Đây là việc dân sự: “Tuyên bố một người là đã chết” theo khoản 4 Điều 27, khoản 3 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về yêu cầu của các đương sự: Bà A yêu cầu Tòa án tuyên bố bà I, sinh năm 1968, Nơi cư trú cuối cùng: 137/69 Đường Đ5, Phường P1, Quận Q3, nay là 137/69 Đường Đ1, phường P1, Quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.
[2.1] Bà A là chị bà I do đó bà A có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố bà I là đã chết.
[2.2] Căn cứ bản sao Tờ khai gia đình ngày 28/7/1972 và bản sao Phiếu thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu ngày 01/11/2018 có xác nhận của Công An Quận Q1, Thành phố Chí Minh thì “Tờ khai gia đình năm 1972, địa chỉ: 137/69 Đường Đ5, Phường P1, Quận Q3 có tên đương sự: I, sinh năm 1968. Sau năm 1975 không có tên trong danh sách đăng ký hộ khẩu lại; Và căn cứ Đơn xác nhận ngày 14/12/2018 có xác nhận của Công an Phường P1, Quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh, thì “Từ ngày 30/4/1975 đến nay, tại địa chỉ: 137/69 Đường
2
Đ1, phường P1, Quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh không có ai tên I, đăng ký hộ khẩu thường trú, tạm trú cũng như thực tế cư trú”.
[2.3] Như vậy, bà I đã biệt tích trên 05 (Năm) năm, bà A là chị của bà I là người có quyền, lợi ích liên quan. Nên việc bà A yêu cầu tuyên bố bà I đã chết là phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 71 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được Tòa chấp nhận.
[2.4] Về ngày chết của bà I: Theo bà A khai ngày 30/3/1973 căn nhà 137/69 Đường Đ5, Phường P1, Quận Q3 bị cháy thì gia đình không có tin tức xác thực bà I còn sống. Như vậy theo quy định tại khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 và khoản 2 Điều 71 Bộ luật dân sự thì ngày bà I biệt tích được tính từ ngày 30/3/1973 đến ngày 30/3/1978 là 05 (Năm) năm. Nên ngày chết của bà I được xác định là ngày 01/4/1978.
[2.5] Bà A phải thực hiện việc đăng ký khai tử cho bà I theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
[2.6] Về quan hệ nhân thân và quan hệ tài sản của bà I:
Theo Điều 72 Bộ luật dân sự thì: “Khi quyết định của Tòa án tuyên bố một người là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà I được giải quyết như đối với người đã chết. Tài sản của bà I được giải quyết theo pháp luật thừa kế”.
[3] Về lệ phí việc dân sự là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) do bà A nộp theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 1 Điều 37, Điều 149, 367, 369, 370, 371, 372 và Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1, khoản 2 Điều 71 và Điều 72 Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số:326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
1.Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự của bà A.
Tuyên bố bà I, sinh năm 1968, Nơi cư trú cuối cùng:137/69 Đường Đ1, phường P1, Quận Q1, Thành phố Hồ Chí Minh là đã chết.
Ngày chết của bà I là ngày 01/4/1978.
Bà A phải thực hiện việc đăng ký khai tử cho bà I theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà I là đã chết có hiệu lực pháp luật thì quan hệ về hôn nhân, gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà I được giải quyết như đối với người đã chết.
3
Quan hệ tài sản của người bị Tòa án tuyên bố một người là đã chết được giải quyết như đối với người đã chết; Tài sản của bà I được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.
2.Về lệ phí việc dân sự: 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) do bà A nộp, được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng lệ phí mà bà A đã nộp theo Biên lai thu số 0024753 ngày 18/10/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự, Thành phố Hồ Chí Minh.
3.Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Các đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 10 (Mười) ngày kể từ ngày ra quyết định.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND cấp cao tại TP.HCM; - VKSND TP.HCM; - Chi cục THADS TP.HCM; - Ủy ban nhân dân Phường P1, Quận Q1; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ việc dân sự; - Lưu văn phòng. 4 | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) Nguyễn Thị Thu |