- Tranh chấp gì? Yêu cầu nhằm chấm dứt việc nuôi con nuôi — án hôn nhân và gia đình — "Lê Huỳnh Diễm S - Lê Duy V"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Huỳnh Diễm S.
- Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 – KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 123/2026/QĐST-VHNGĐ | Khánh Hòa, ngày 14 tháng 8 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
V/v: Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - KHÁNH HÒA
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Dung
Thư ký phiên họp: Ông Trần Mạnh Long.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Như Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân và gia đình thụ lý số: 420/2026/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 7 năm 2026 về việc “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 01/2026/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Bà Lê Huỳnh Diễm S, sinh năm 1990.
Địa chỉ: Số A C, phường P, tỉnh Khánh Hòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Lê Duy V, sinh ngày 05/11/2014 (có mặt)
- Ông Lê Minh L, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số A C, phường P, tỉnh Khánh Hòa.
- Bà Trần Thị Ngọc H, sinh năm 1992 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp F, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Tại đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đề ngày 21 tháng 7 năm 2026 và quá trình giải quyết việc dân sự, người yêu cầu bà Lê Huỳnh Diễm S trình bày:
Cháu Lê Duy V, sinh ngày 05/11/2014 là con ruột của ông Lê Minh L và bà Trần Thị Ngọc H. Năm 2020, ông L bà H ly hôn, theo quyết định của Tòa án thì ông L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Lê Duy V. Bà là em gái ông Lê Minh L và sống cùng nhà với ông L, cháu V. Do ông L làm nghề lái xe, thường xuyên phải di chuyển xa nhà, không có điều kiện về thời gian để chăm sóc cháu V. Do đó, năm 2022, bà đã thống nhất với ông L, bà H để nhận cháu V làm con nuôi. Ngày 21/3/2022, Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là UBND phường P, tỉnh Khánh Hòa) đã cấp Giấy chứng nhận nuôi con nuôi trong nước số 01, công nhận cháu Lê Duy V là con nuôi của bà.
Hiện nay, do bận công việc cá nhân nên không có điều kiện để tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V. Bản thân cháu V có nguyện vọng về sống với ông Lê Minh L. Ông Lê Minh L, bà Trần Thị Ngọc H thống nhất để cháu V về sống chung với ông L. Vì vậy, bà yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà và cháu Lê Duy V.
Quá trình giải quyết, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cháu Lê Duy V trình bày: Cháu có nguyện vọng về sống với cha ruột là ông Lê Minh L nên đồng ý với yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Lê Huỳnh Diễm S đối với cháu.
Quá trình giải quyết, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Minh L: Thống nhất với lời trình bày của bà S về việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi giữa bà S và cháu V. Ông là cha ruột cháu V, ông đồng ý với yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà S. Sau khi chấm dứt việc nuôi con nuôi thì cháu V sẽ do ông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do bận công việc nên ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông.
Quá trình giải quyết, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Ngọc H trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà S về việc xác lập quan hệ nuôi con nuôi giữa bà S và cháu V. Bà là mẹ ruột cháu V, bà đồng ý với yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà S. Sau khi chấm dứt việc nuôi con nuôi thì cháu V sẽ do ông Lê Minh L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do bận công việc nên bà đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt bà.
Tại phiên họp Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5-Khánh Hòa phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý cũng như giải quyết việc dân sự, Tòa án, chủ tọa phiên họp đã thực hiện đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng, đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại Điều 376 và Điều 378 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Áp dụng Điều 10, Điều 25, Điều 26, Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010; khoản 5 Điều 29, Điều 35, Điều 39, Điều 362 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 78 Luật hôn nhân gia đình; Án lệ số 61/2023/AL về việc chấm dứt nuôi con nuôi chưa thành niên: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của bà Lê Huỳnh Diễm S, tuyên bố chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Lê Huỳnh Diễm S và cháu Lê Duy V.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân khu vực 5 - Khánh Hòa nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Huỳnh Diễm S yêu cầu Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi với cháu Lê Duy V nên xác định quan hệ pháp luật là “Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 5 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự. Bà Lê Huỳnh Diễm S và cháu Lê Duy V cư trú tại: Số A C, phường P, tỉnh Khánh Hòa nên căn cứ Điều 35; điểm l khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, yêu cầu trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 5, tỉnh Khánh Hòa.
Về yêu cầu chấm dứt việc nuôi con với cháu Lê Duy V. Xét thấy:
Năm 2022, bà Lê Huỳnh Diễm S nhận nuôi cháu Lê Duy V là con đẻ của ông Lê Minh L, bà Trần Thị Ngọc H1. Các bên có làm hồ sơ nhận nuôi con nuôi và được Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là UBND phường P, tỉnh Khánh Hòa) cấp giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01 ngày 21/3/2022 nên quan hệ nuôi con nuôi là hợp pháp và các bên đều thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Nay cháu Lê Duy V có nguyện vọng về ở với bố đẻ là ông Lê Minh L, được bà Lê Huỳnh Diễm S và bố mẹ đẻ là anh L, chị H đồng ý. Vì vậy, bà S làm đơn đề nghị Tòa án chấm dứt việc nuôi con nuôi là tự nguyện và phù hợp với quy định tại Ðiều 78 của Luật Hôn nhân và gia đình và Ðiều 25 của Luật Nuôi con nuôi. Do đó cần chấp nhận yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi của bà Lê Huỳnh Diễm S với cháu Lê Duy V.
Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa tại phiên họp là có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.
Về lệ phí: Căn cứ Ðiều 149 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Ðiều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Lê Huỳnh Diễm S phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 29, Điều 35, Điều 39, Ðiều 149, khoản 3 Ðiều 367, Điều 371, Điều 372 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 78 Luật hôn nhân gia đình; Điều 10, Điều 25, Điều 26, Điều 27 Luật nuôi con nuôi năm 2010; khoản 1 Ðiều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án; Án lệ số 61/2023/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua vào các ngày 01, 02, 03 tháng 02 năm 2023 và được công bố theo ngày 24 tháng 02 năm 2023 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Lê Huỳnh Diễm S.
Chấm dứt việc nuôi con nuôi giữa bà Lê Huỳnh Diễm S với cháu Lê Duy V theo Giấy chứng nhận nuôi con nuôi số 01 ngày 21/3/2022 của UBND phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nay là UBND phường P, tỉnh Khánh Hòa.
Quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi chấm dứt kể từ ngày quyết định chấm dứt việc nuôi con nuôi của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Bà Lê Huỳnh Diễm S phải chịu 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000504 ngày 21/7/2026 của Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa. Bà Lê Huỳnh Diễm S đã nộp đủ lệ phí giải quyết việc dân sự.
3. Quyền kháng cáo, kháng nghị:
Bà Lê Huỳnh Diễm S có quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ban hành quyết định; ông Lê Minh L, bà Trần Thị Ngọc H có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Khánh Hòa có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND tỉnh Khánh Hòa; - VKSND khu vực 5; - Các đương sự; - THADS tỉnh Khánh Hòa; - UBND phường Phan Rang; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Phạm Thị Dung |