- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do nghiện ma tuý, rượu chè, cờ bạc — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn giữa chị Ng và anh Kh"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Lương Thị Ng và anh Trần Quang Kh.
- Căn cứ chính? Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢNG HÀ TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 123/2018/QĐST - HNGĐ | Hưng Hà, ngày 20 tháng 7 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THOẢ THUẬN CỦA CÁC ĐƢƠNG SỰ
Căn cứ vào hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 178/2018/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2018 giữa:
Nguyên đơn: Chị Lương Thị Ng, sinh năm 1987. ĐKHKTT: Khu Â, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình. Chỗ ở hiện nay: Thôn Q, xã L, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Bị đơn: Anh Trần Quang Kh, sinh năm 1981. Địa chỉ: Khu Â, thị trấn H, huyện H, tỉnh Thái Bình.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 - Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 12 tháng 7 năm 2018.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 12 tháng 7 năm 2018 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn bảy ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Lương Thị Ng và anh Trần Quang Kh.
2. Sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về hôn nhân: Chị Lương Thị Ng và anh Trần Quang Kh thuận tình ly hôn.
- Về nuôi con chung: Chị Lương Thị Ng và anh Trần Quang Kh có 02 con chung là Trần Ngọc Q, sinh ngày 01-4-2007 và Trần Quang K, sinh ngày 23-8-2009. Chị Ng, anh Kh thỏa thuận chị Ng trực tiếp nuôi dưỡng cháu K, anh Kh trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau. Chị Ng, anh Kh có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về chia tài sản: Chị Ng, anh Kh có tài sản chung gồm: Thửa đất số 299, tờ bản đồ số 14, diện tích 100m2 tại thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Thái Bình đã được Ủy ban nhân dân huyện H, tỉnh Thái Bình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tên chủ sử dụng đất là anh Trần Quang Kh. Chị Ng, anh Kh thỏa thuận để chị Ng được toàn quyền sử dụng thửa đất số 299, tờ bản đồ số 14, diện tích 100m2 tại thôn C, xã L, huyện H, tỉnh Thái Bình, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BA224803, ngày 06-4-2010 mang tên Trần Quang Kh. Chị Ng có trách nhiệm thanh toán cho anh Kh ½ giá trị quyền sử dụng diện tích đất này là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng), (chị Ng và anh Kh đã thanh toán cho nhau xong số tiền này). Ngoài ra, chị Ng và anh Kh không có tài sản gì khác.
- Về nợ chung: Không có.
- Về án phí: Chị Lương Thị Ng tự nguyện chịu cả 150.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị Ng đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0005224 ngày 26-6-2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Thái Bình. Hoàn trả chị Ng 150.000 đồng.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
THẨM PHÁN
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - UBND thị trấn H; - Lưu hồ sơ. | (đã ký) Trần Thị Nhàn |