vanban.org

Quyết định 1223/2017/QĐDS-HNST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

TAND TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 18/09/2017 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009.

Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Thành T và trẻ Lê Hoàn M Trâm có người đại diện theo pháp luật là bà Lê Thị Mỹ N. Xác định Ông Lê Thành T, sinh ngày 17/10/1998 và trẻ Lê Hoàn Mỹ T, sinh ngày 29/7/2000 là con ruột cùa ông Lê Thành T, sinh ngày 15/4/1956, mất ngày 13/9/2016.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thành T - Lê Hoàn Mỹ T"
  • Tòa quyết gì? Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009.
  • Căn cứ chính? Pháp lệnh số 10/2009/UBTVQH12 Án phí, lệ phí tòa án; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 1223/2017/QĐDS-HNST
Ngày: 18-9-2017

V/v: Yêu cầu xác định cha cho con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Với thành phần giải quyết việc dân sự: Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Đỗ Giang - Thẩm phán

- Thư ký phiên họp: Bà Phạm Thị Nguyên - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Cao Hoàng Thắng - Kiểm sát viên. Trong ngày 18 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 528/2016/HNST ngày 12/12/2016 về việc: “Yêu cầu xác định cha cho con” theo Quyết định mở phiên họp số: 1905/2017/QĐDS-ST ngày 28 tháng 8 năm 2017, giữa các đương sự: 1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:

- Ông Lê Thành T, sinh năm: 1998 Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Văn Q, sinh năm 1978 Địa chỉ: 221 đường L, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền ngày 13/7/2017 tại Văn phòng Công chứng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Trẻ: Lê Hoàn Mỹ T, sinh năm 2000 Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Mỹ N, sinh năm 1966 Địa chỉ: 551/21 Bến P, Phường C, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh. 2. Người được yêu cầu: Ông Lê Thành T (sinh năm: 1956 – mất năm: 2016) 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Lê Thị Mỹ N, sinh năm: 1966 Địa chỉ: 551/21 Bến P, Phường C, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Mỹ N: Ông Ngô Văn Q, sinh năm 1978 Địa chỉ: 221 đường L, Phường M, Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền ngày 14/6/2017 tại Văn phòng Công chứng Đ, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Bà Lê Thanh Hoàng T (Le Hoang Thanh T), sinh năm 1984. Địa chỉ: 2 M.St.H, CA 92346, Hoa Kỳ.

- Ông Lê Nguyễn Hoàng T (Le Hoang T Nguyen), sinh năm 1987 Địa chỉ: 7713 W.Cir. M, TN 38133, Hoa Kỳ Người đại diện theo ủy quyền của bà T, ông T Bà Lê Thị Mỹ N, sinh năm: 1966 Địa chỉ: 551/21 Bến P, Phường C, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo các giấy ủy quyền lập cùng ngày 09/11/2016). 4. Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết: Ngày 12/10/2016, ông Lê Thành T và trẻ Lê Hoàn Mỹ T có người đại diện theo pháp luật là bà Lê Thị Mỹ N có Đơn xin xác nhận cha cho con. Yêu cầu Tòa án xác định ông Lê Thành T là cha ruột của ông Lê Thành T và trẻ Lê Hoàn Mỹ T.

NHẬN ĐỊNH

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên họp, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trước khi mở phiên họp, các đương sự đều có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Xét yêu cầu trên của các đương sự không trái với quy định của pháp luật, đạo đức xã hội và trên cơ sở tự nguyện nên căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về thẩm quyền giải quyết: Xét yêu cầu của ông Lê Thành T và trẻ Lê Hoàn Mỹ T thuộc tranh chấp về xác định cha cho con, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thanh Hoàng T và ông Lê Nguyễn Hoàng T đang cư trú tại nước ngoài nên thẩm quyền giải quyết vụ việc thuộc về Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh như quy định tại Khoản 4 Điều 28, Khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về nội dung:

Theo Đơn xin xác nhận cha cho con ngày 12/10/2016, người yêu cầu đề nghị Tòa án xác định ông Lê Thành T là cha ruột của ông Lê Thành T và trẻ Lê Hoàn Mỹ T.

Với các tài liệu chứng cứ đã được Tòa án thu thập và đương sự giao nộp thể hiện trước đây ông Lê Thành T có vợ là bà Nguyễn Thị Hoàng C. Hai người sống với nhau có con chung là Lê Nguyễn Hoàng T và Lê Thanh Hoàng T (Theo Trích lục khai sinh số 367/TLKS-BS và trích lục khai sinh số 2880/TLKS-BS do Ủy ban nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 20/9/2016). Sau đó, ông T và bà C đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 125/TL-01 ngày 03/8/1991 của Tòa án nhân dân Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo bà Lê Thị Mỹ N trình bày, sau khi ly hôn với bà Nguyễn Thị Hoàng C; năm 1997 ông Lê Thành T sống chung với bà và có hai người con chung là Lê Thành T và Lê Hoàn Mỹ T.

Tuy nhiên, căn cứ vào Giấy khai sinh số 150, quyển số 01/2000 do Ủy ban nhân dân Phường C, Quận S, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 07/8/2000 cho trẻ Lê Hoàn Mỹ T và Giấy khai sinh số 33/2000, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân Phường C, quận S, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 21/02/2000 cho ông Lê Thành T thì cả hai Giấy khai sinh đều thể hiện Lê Thành T và Lê Hoàn Mỹ T có mẹ là bà Lê Thị Mỹ N và không thể hiện tên cha.

Vì vậy, ông Lê Thành T và trẻ Lê Hoàn Mỹ T yêu cầu xác định ông Lê Thành T là cha ruột của mình.

Xét thấy, căn cứ Trích lục khai tử số 329/TLKT –BS do Ủy ban nhân dân Phường M, Quận N cấp ngày 14/9/2016 thì ông Lê Thanh T mất ngày 13/9/2016. Do ông Lê Thành T đã qua đời nên Tòa án không thể thu thập mẫu Gen để giám định AND, xác định trực tiếp mối quan hệ huyết thống của ông T với ông T, trẻ T.

Tuy vậy, với người vợ trước là bà C, ông Lê Thành T có con ruột là Lê Nguyễn Hoàng T và Lê Thanh Hoàng T. Theo các bản khai ngày 02/11/2016 và bản khai ngày 13/01/2017, các con ruột của ông Lê Thành T là ông Lê Nguyễn Hoàng T và bà Lê Thanh Hoàng T đều xác định ông Thân chính là cha ruột của ông Lê Thành T và trẻ Lê Hoàn Mỹ T. Đồng thời, họ tự nguyện hiến Gen để làm các thủ tục giám định ADN theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào phiếu phân tích ADN ngày 30/9/2016 của Công ty Cổ phần dịch vụ phân tích di truyền giữa bà Lê Thanh Hoàng T và trẻ Lê Hoàn Mỹ T. Hội đồng Khoa học kết luận bà Lê Thanh Hoàng T và trẻ Lê Hoàn Mỹ T có quan hệ huyết thống theo dòng cha (trên nhiễm sắc thể X).

Căn cứ vào Kết quả xét nghiệm Gen (ADN) số 278/DVADN ngày 10/10/2016 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Tổng cục Cảnh sát nhân dân, cơ quan này xác định ông Lê Nguyễn Hoàng T và ông Lê Thành T có quan hệ huyết thống theo dòng cha (Anh – em ruột).

Từ các tài liệu, chứng cứ trên, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định trẻ Lê Hoàn Mỹ T, ông Lê Thành T và ông Lê Nguyễn Hoàng T, bà Lê Thanh Hoàng T có quan hệ huyết thống theo dòng cha là ông Lê Thành T. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của đương sự về việc xác định ông Lê Thành T là cha ruột của ông Lê Thành T và trẻ Lê Hoàn Mỹ T.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ Điều 28, Điều 147, Khoản 1 Điều 228, Khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

- Căn cứ Khoản 2 Điều 88, Khoản 2 Điều 101, Khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

- Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/2009/UBTVQH12 ngày 27/02/2009.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của ông Lê Thành T và trẻ Lê Hoàn M Trâm có người đại diện theo pháp luật là bà Lê Thị Mỹ N.

- Xác định Ông Lê Thành T, sinh ngày 17/10/1998 và trẻ Lê Hoàn Mỹ T, sinh ngày 29/7/2000 là con ruột cùa ông Lê Thành T, sinh ngày 15/4/1956, mất ngày 13/9/2016.

- Ông Lê Thành T và trẻ Lê Hoàn Mỹ T có người đại diện theo pháp luật là bà Lê Thị Mỹ N được quyền liên hệ với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để tiến hành các thủ tục điều chỉnh Giấy khai sinh, hộ tịch theo quy định của pháp luật.

2. Lệ phí giải quyết việc dân sự phải nộp: Ông Lê Thành T và trẻ Lê Hoàn Mỹ T có người đại diện theo pháp luật là bà Lê Thị Mỹ N phải nộp 200.000 đồng, được cấn trừ vào Biên lai thu tiền số AB/2012/07691 ngày 17/10/2016 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận N, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ