vanban.org

Quyết định 122/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với ông Nguyễn Phước C. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 16 (Mười sáu) tháng kể Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "ADBPXLHC đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đồi với Nguyễn Phước C"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối
  • Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 122/QĐ-TAThành phố Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 12 năm 2025.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim T

2. Thư ký phiên họp: Bà Danh Thị Ngọc Lệ

Ngày 02 tháng 12 năm 2025, tại Cơ sở cai nghiện ma túy Số 6, thành phố Hồ

Chí Minh tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 90/QĐ-TA ngày 27 tháng 11 năm 2025, đối với:

Họ và tên: Nguyễn Phước C. Giới tính: Nam.

Sinh ngày 10 tháng 10 năm 1993.

Số CMND: 272231437.

Dân tộc: Kinh.

Tôn giáo: Không.

Trình độ văn hóa: 01/12.

Nguyên quán: Hồ Chí Minh.

Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định.

Nơi ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định.

Nghề nghiệp: Làm rẫy.

Tiền án:

Ngày 15/11/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt

02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 65/2013/HSST; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 13/6/2015, nhưng chưa thi hành phần dân sự.

Ngày 26/4/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng

Tàu xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 26/2018/HSST;

Ngày 05/3/2019, bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng

Tàu xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án số 10/2019/HSST; bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/01/2025.

Tiền sự: Không.

Về nhân thân:

Ngày 18/9/2015, bị Tòa án nhân dân Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng

biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, bị cáo chấp hành xong ngày 31/12/2016.

Con ông Nguyễn Phước L và bà Nguyễn Thị N.

Nguyễn Phước C có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Vũ Mạnh H – Cán bộ Công an xã H, thành

phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền số 1179/UQ – CAX ngày 28 tháng 11 năm 2025)

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh: Ông

Cù Hoàng Vũ – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Công an xã H, thành phố Hồ Chí Minh ban hành văn bản số 1134/ĐN-CAX,

ngày 24/11/2025 về việc đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma túy Số F, thành phố Hồ Chí Minh đối với ông Nguyễn Phước C về hành vi vi phạm như sau:

Tại bản tường trình và biên bản làm việc ngày 17/9/2025 ông Nguyễn Phước C

trình bày: ông C bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2015, gần đây nhất là vào ngày 14/9/2025 có sử dụng ma túy tại nhà của bà Q thuộc ấp P, xã H, thành phố Hồ Chí Minh. Do ông C có hành vi vi phạm và tự nguyện khai nhận nên ngày 16/9/2025, Công an xã H, thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với ông C, kết quả xét nghiệm cho thấy ông C dương tính với ma túy (MET). Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy (kèm phiếu tổng hợp theo dõi để xác định tình trạng nghiện ma túy) ngày 17/9/2025 của Trạm y tế thị trấn P, Trung tâm y tế huyện X xác định ông C có nghiện ma túy, tên loại ma tuý sử dụng MET (ma tuý đá). Sau khi có kết quả, xác định ông C có nghiện ma túy nhưng bản thân ông C không đăng ký và từ chối cai nghiện tự nguyện nên đã vi phạm quy định tại Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021. Vì vậy, ngày 24/9/2025 ông Nguyễn Phước C bị Công an xã H, thành phố Hồ Chí Minh lập biên bản số 38/BB-VPHC về việc vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.

Từ những cơ sở và căn cứ nêu trên, ngày 24/9/2025 Công an xã H, thành phố

Hồ Chí Minh đã có Thông báo số 43/TB-CAX về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Trước đó, ngày 17/9/2025, Trưởng Công an xã H, thành phố Hồ Chí Minh có Quyết định số 607/QĐ-QLNN về việc quản lý người nghiện ma túy trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Nguyễn Phước C do ông C không có nơi cư trú ổn định nên Trưởng Công an xã H, thành phố Hồ Chí Minh căn cứ điểm a khoản 2 Điều 131 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025); khoản 2 Điều 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP của Chính phủ, ngày 21/12/2021 giao ông C cho Cơ sở Cai nghiện ma tuý Số F, thành phố Hồ Chí Minh quản lý từ ngày 17/9/2025 đến khi có quyết định của Tòa án.

Sau khi lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện

bắt buộc theo đúng thủ tục quy định tại Điều 41 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 7 và Điều 8 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA - VKSNDTC - TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ C1 – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao; Điều 103 và Điều 104 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025). Trưởng Công an xã H, thành phố Hồ Chí Minh chuyển hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Tại phiên họp:

- Đại diện Cơ quan đề nghị trình bày nội dung đề nghị xem xét, quyết định áp

dụng biện pháp xử lý hành chính: Đại diện theo ủy quyền của Trưởng Công an xã H, thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy, ông Nguyễn Phước C có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, theo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy thì ông C nghiện ma túy, tên loại ma tuý sử dụng MET (ma tuý đá) và đã bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm. Ông C được xác định là người không có nơi cư trú ổn định nên thuộc đối tượng quy định tại Điều 96 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025); bản thân ông C không đăng ký cai nghiện tự nguyện nên đã vi phạm khoản 1 Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy năm 2021. Vì vậy, đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh xem xét ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông C một thời gian, giúp ông C trở thành người có ích cho xã hội. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc từ 14 (Mười bốn) tháng đến 16 (Mười sáu) tháng.

- Ý kiến của Viện kiểm sát: Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về tính hợp pháp của

các hành vi, quyết định của Tòa án, cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính.

Thẩm phán, thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp xử lý

hành chính theo quy định tại các Điều 8, 9, 10, 12, 13, 15, 17 và Điều 21 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban T1 (sau đây viết tắt là Pháp lệnh); người tham gia phiên họp thực hiện đúng quy định tại Điều 19, Điều 20 của Pháp lệnh.

Việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông C là cần

thiết, đề nghị Tòa án xem xét quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa ông C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc như đề nghị của Trưởng Công an xã H, thành phố Hồ Chí Minh.

- Người bị đề nghị trình bày ý kiến về nội dung đề nghị của Cơ quan đề nghị:

Ông Nguyễn Phước C thừa nhận sử dụng ma túy nhiều lần, thời gian bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2015, gần đây nhất là vào ngày 14/9/2025 có sử dụng ma túy tại nhà của bà Q thuộc ấp P, xã H, thành phố Hồ Chí Minh. Loại ma túy sử dụng là ma túy đá (MET) và đề nghị Hội đồng phiên họp xem xét giảm thời gian chấp hành.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và nghe lời trình bày

của Cơ quan đề nghị, người bị đề nghị tại phiên họp và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên họp.

XÉT THẤY:

[1.] Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị:

- Thời hiệu giải quyết: Ngày 14/9/2025, ông Nguyễn Phước C có hành vi vi

phạm. Ngày 24/9/2025, ông C bị cơ quan có thẩm quyền lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Ngày 02/12/2025, Tòa án mở phiên họp xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông C là còn trong thời hiệu, theo quy định tại Điều 6 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025).

- Thẩm quyền giải quyết: Căn cứ Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày

27/6/2025 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân thì thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 14, thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 3 của Pháp Lệnh về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân và khoản 2 Điều 105 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025).

- Trình tự, thủ tục lập hồ sơ: Sau khi xác định ông Nguyễn Phước C là người

nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định. Cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành thủ tục lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại các Điều 40, 41, 42, 43, 44 và 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ C1 – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao và Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025).

[2.] Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm:

Ông Nguyễn Phước C thừa nhận toàn bộ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy

của mình. Lời khai của ông C phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và phần trình bày của Cơ quan đề nghị. Ông C bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2015, năm 2015 ông C bị Tòa án nhân dân Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ông C từng bị Tòa án xử nhiều lần về nhiều tội khác nhau như năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xử phạt 24 tháng tù về tội “trộm cắp tài sản”; năm 2019 bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, nhưng ông C không lấy đó làm bài học sửa đổi bản thân, lại tiếp tục sử dụng ma túy vào ngày 14/9/2025. Quá trình làm việc tại Công an cũng như tại phiên họp ông C tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đối tượng nhận thức được việc sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến trật tự quản lý các chất gây nghiện của Nhà nước, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của người sử dụng và là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội khác. Do đó, cần tạo điều kiện cho ông C có thời gian phù hợp để điều trị, cai nghiện được ma túy, tái hòa nhập cộng đồng.

Về hình thức, biện pháp và thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính:

Đề nghị của đại diện theo ủy quyền của Trưởng công an xã H về việc đưa ông

Nguyễn Phước C vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian từ 14 (Mười bốn) đến 16 (Mười sáu) tháng để chữa bệnh, phục hồi sức khỏe là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021 nên được chấp nhận.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Tình tiết tăng nặng: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ: Nguyễn Phước C đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi

nên căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020) xem xét giảm nhẹ một phần mức thời gian áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về phát biểu của Kiểm sát viên: Tại phiên họp, Kiểm sát viên đề nghị Thẩm

phán chấp nhận đề nghị của Trưởng công an xã H là có căn cứ, nên chấp nhận.

Về quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị: Người bị đề nghị có quyền khiếu

nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng nghị theo quy định tại các Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Pháp lệnh số 03/2022 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về căn cứ áp dụng:

Căn cứ vào các Điều 3, 6, 9, 95, 96, 103, 104, 105, 110 và 131 của Luật Xử lý

vi phạm Hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025); Điều 32 của Luật Phòng, chống ma túy năm 2021; các Điều 2, 3, 7, 8, 20, 22, 23, 30, 31, 32 và 33 của Pháp Lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; các Điều 40, 41, 42, 43, 44 và Điều 45 Nghị định số 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 của Chính phủ; Điều 7, Điều 8 và Điều 11 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT - BCA – VKSNDTC - TANDTC, ngày 01/3/2025 của Bộ C1 – Viện kiểm sát nhân dân Tối cao – Tòa án nhân dân Tối cao.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối

với ông Nguyễn Phước C.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là: 16 (Mười sáu) tháng kể

kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Tính từ ngày 17/9/2025.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị và thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị:

Thời hạn khiếu nại của người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là 05 ngày

làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định;

Thời hạn kiến nghị của Cơ quan đề nghị, kháng nghị của Viện kiểm sát cùng

cấp là 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị,

kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã H, thành phố Hồ Chí Minh tổ chức

thi hành quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Cỡ chữ