- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Nguyễn Ngọc N khởi kiện ông Phạm Thanh S yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi cọn chung"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Ngọc N và ông Phạm
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 122/2026/QĐST-HNGĐ | Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 6 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
CÔNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA
CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ vào hồ sơ vụ án dân sự thụ lý số 326/2026/TLST-HNGĐ ngày 25-5-2026 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1991
Địa chỉ: Tổ A, ấp S, phường T, Thành phố Đ.
Bị đơn: Ông Phạm Thanh S, sinh năm 1985
Địa chỉ: Tổ A, khu phố P, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 04 tháng 6 năm 2026.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thỏa thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành ngày 04 tháng 6 năm 2026 là hoàn toàn tự nguyện và không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện
ly hôn và hòa giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thỏa thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Nguyễn Ngọc N và ông Phạm
Thanh S.
2. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự cụ thể như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Ngọc N và ông Phạm Thanh S thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Bà Nguyễn Ngọc N và ông Phạm Thanh S thỏa thuận giao con chung là cháu Phạm Thanh S1, sinh ngày 19-9-2017 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); giao con chung là cháu Phạm Thanh L, sinh ngày 03-01-2013 cho ông S trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi), không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền ngăn cản.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người không trực tiếp nuôi con, nếu họ lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi việc nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Ngọc N và ông Phạm Thanh S Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí Tòa án: Bà Nguyễn Ngọc N và ông Phạm Thanh S mỗi người nộp 75.000đ (bảy mươi lăm ngàn) đồng. Bà Nguyễn Ngọc N tự nguyện nộp 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn) đồng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0030984 ngày 19-5-2026 tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Nguyễn Ngọc N được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí 150.000đ (một trăm năm mươi ngàn) đồng.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND KV 12 TPHCM; - Phòng THADS KV 12 TP.HCM; - UBND phường Rạch Dừa, TP. HCM; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN Lê Thị Hoa |