- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Tuyên bố một người đã chết"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Lương Thị Th.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 122/2021/QĐST-VDS; Ngày: 05/11/2021. |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
(V/v: Tuyên bố một người đã chết)
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần giải quyết việc dân sự:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Nguyễn Thị Kim Anh.
- Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Mai Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức tham gia phiên họp: Ông Nguyễn Tiến Việt - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân nhân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 70/2021/TLST-VDS ngày 10/5/2021, về việc: Yêu cầu tuyên bố một người đã chết, theo Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự số 13/2021/QĐST-VDS ngày 28/10/2021, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Chị Lương Thị Th, sinh năm 1983;
Trú tại: Thôn AB, xã AK, huyện HĐ, thành phố Hà Nội.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Lương Thị Quỳnh Ng, sinh năm 1985
Trú tại: Thôn AB, xã AK, huyện HĐ, thành phố Hà Nội.
Người làm chứng:
- Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1964.
Trú tại: Xóm M, thôn VH, xã YT, huyện YM, tỉnh Ninh.
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1956 có đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại: Thôn AB, xã AK, huyện HĐ, thành phố Hà Nội.
Bà S có chồng là ông Lương Văn Th, sinh năm 1945 (đã chết năm 2001) và có 02 con là: Lương Thị Th, sinh năm 1983; Lương Thị Quỳnh Ng sinh năm 1985. Chị Th và chị Ng đều có hộ khẩu thường trú tại: thôn AB, xã AK, huyện HĐ, thành phố Hà Nội.
Năm 1993 bà S bỏ nhà đi biệt tích, không nói với ai về việc đi đâu, làm gì, không có mặt tại địa phương. Gia đình chị Th đã nhiều lần tìm kiếm bằng nhiều biện pháp khác nhau nhưng không có bất kỳ tin tức gì về việc bà S còn sống hay đã chết. Bố đẻ bà S là cụ Nguyễn Văn Th, đã chết năm 1969; mẹ đẻ bà S là cụ Đinh Thị U, đã chết năm 2013.
Nay chị Lương Thị Th yêu cầu Toà án tuyên bố bà Nguyễn Thị S là người đã chết.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Lương Thị Quỳnh Ng trình bày:
Chị là con đẻ của ông Lương Văn Th (chết năm 2001) và bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1956, nơi cư trú cuối cùng: Thôn AB, xã AK, huyện HĐ, thành phố Hà Nội, quê quán: thôn VH, xã YT, huyện YM, tỉnh Ninh Bình. Bố mẹ chị sinh được hai người con là: Lương Thị Th, sinh năm 1983 và Lương Thị Ng, sinh năm 1985. Quá trình sinh sống, mẹ chị đã bỏ nhà đi từ năm 1993 và từ đó không về địa phương, gia đình không biết mẹ chị đã đi đâu, đồng thời cũng không có thông tin và liên lạc gì. Nay chị Lương Thị Th đề nghị Toà án nhân dân huyện Hoài Đức tuyên bố mẹ chị là bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1956, nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng: Thôn AB, xã AK, huyện HĐ, thành phố Hà Nội đã chết thì chị nhất trí đề nghị Tòa án tuyên bố mẹ chị là bà Nguyễn Thị S là người đã chết.
Người làm chứng là bà Nguyễn Thị T trình bày: Bà là em gái của bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1956 có Hộ khẩu thường trú tại: Thôn AB, xã AK, huyện HĐ, thành phố Hà Nội và có quê quán: xóm Mới, thôn VH, xã YT, huyện YM, tỉnh Ninh Bình. Từ năm 1993 chị bà không về địa phuông, gia đình không biết bà S đi đâu, đồng thời không có thông tin liên lạc gì. Hiện nay, chị bà cũng không có mặt tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội nhận định:
[I]. Về tố tụng: Chị Lương Thị Th có đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị S là người đã chết là phù hợp với quy định tại 71 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 391 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015. Tòa án nhân dân huyện HĐ thụ lý giải quyết việc dân sự là đúng thẩm quyền.
[II]. Về nội dung:
1/- UBND xã AK và Công an xã AK, huyện HĐ, thành phố Hà Nội cung cấp:
Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1956, nơi cư trú cuối cùng: Thôn AB, xã AK, huyện HĐ, thành phố Hà Nội có chồng là ông Lương Văn Th (chết năm 2001), có hai người con là: Lương Thị Th, sinh năm 1983 và Lương Thị Quỳnh Ng, sinh năm 1985. Bà S đã rời khỏi địa phương đến nay không về địa phương và không có thông tin gì nơi ở, nơi làm việc. Quá trình sinh sống tại địa phương, bà S đã bỏ nhà đi từ năm 1993. Hiện nay, bà S không sinh sống tại địa phương và không có tin tức gì.
2/- Công an xã YT, huyện YM, tỉnh Ninh Bình cung cấp:
Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1956; nơi ở cuối cùng: Thôn AB, xã AK, huyện HĐ, thành phố Hà Nội; quê quán: Thôn Vân Hạ, xã YT, huyện YM, tỉnh Ninh Bình không có hộ khẩu thường trú tại xã YT, huyện YM, tỉnh Ninh Bình. Từ thời điểm năm 1993 đến nay, bà Nguyễn Thị S không về cư trú tại địa phương.
3/- Toà án đã thực hiện việc đăng tin tìm kiếm bà Nguyễn Thị S trên Đài Tiếng nói Việt Nam trong các ngày 26, 27 và 29 tháng 5 năm 2021; trên Báo Nhân dân trong 03 số báo liên tiếp vào các ngày 27, 28 và 29 tháng 5 năm 2021; trên cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội vào ngày 18/5/2021 nhưng đến nay vẫn không nhận được thông tin gì về bà S.
4/- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoài Đức tham gia phiên họp đề nghị Toà án: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 27, khoản 4 Điều 143, 361, 362, 367, 369, 370, 371, 391, 392, 393 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 71, 72 của Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu của chị Th, tuyên bố bà S là người đã chết. Thời điểm chết của bà S là ngày 01/01/1999.
. Từ những căn cứ trên, có đủ cơ sở khẳng định bà S đã biệt tích liên tục trong 28 năm, mặc dù đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc bà S còn sống hay đã chết. Do đó, chị Th yêu cầu Toà án tuyên bố bà S là đã chết là có căn cứ nên được chấp nhận, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
. Về lệ phí: Chị Lương Thị Th phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 4 Điều 27, khoản 4 Điều 143, 361, 362, 367, 369, 370, 371, 391, 392, 393 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 71 và Điều 72 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Chấp nhận đơn yêu cầu của chị Lương Thị Th. Tuyên bố bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1956, có hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng tại: Thôn AB, xã AK, huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội là người đã chết. Thời điểm chết của bà Nguyễn Thị S là kể từ thời điểm Quyết định này có hiệu lực pháp luật.
2. Các quan hệ nhân thân, quan hệ tài sản của bà Nguyễn Thị S được giải quyết như đối với người đã chết theo quy định của Bộ luật Dân sự.
3. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Chị Lương Thị Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) lệ phí sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai số AA/2020/0015079 ngày 10/5/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội. Chị Lương Thị Th đã nộp đủ lệ phí.
4. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 07 (bảy) ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - TAND TP Hà Nội; - VKSND huyện Hoài Đức; - Chi cục THADS huyện Hoài Đức; - Các đương sự; - UBND xã AK; - Lưu HS. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Nguyễn Thị Kim Anh |