vanban.org

Quyết định 1206/2019/QĐST-VDS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết

TAND Quận 3, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/11/2019 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ - Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về “Tuyên bố một người là đã chết” của ông Trần V.

Tuyên bố: bà Nguyễn Thị Ngọc T (sinh năm 1949, có nơi cư trú cuối cùng tại 113/14B A, Phường B, Quận C, Thành phố D) là đã chết. Ngày chết được xác định là ngày 01/01/1977. Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Ngọc T là đã chết có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ về hôn nhân và gia đìn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người đã chết — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết"
  • Tòa quyết gì? 1/ - Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về “Tuyên bố một người là đã chết” của ông Trần V.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 1206/2019/QĐST-VDS.Quận 3, ngày 13 tháng 11 năm 2019.

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v: yêu cầu tuyên bố một người là đã chết

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 3 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Phù Quốc Tuấn.

Thư ký phiên họp: Bà Bùi Nhật Vi Phượng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 3 tham gia phiên họp: Bà Lê Mộng Điệp – Kiểm sát viên .

Ngày 13 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 3, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 730/2019/TLST-VDS ngày 27/6/2019 về việc “Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 387/2019/QĐST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2019, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu: Ông Trần V. Sinh năm 1951.

Trú tại: 113/14B A, Phường B, Quận C, Thành phố D.

Đối với: Bà Nguyễn Thị Ngọc Tuyết. Sinh năm 1949.

Nơi cư trú cuối cùng: 113/14B A, Phường B, Quận C, Thành phố D.

(Ông Trần V có đơn xin vắng mặt)

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Tại Đơn yêu cầu ngày 19/6/2019 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ việc, người yêu cầu ông Trần V trình bày: Ông Nguyễn Văn B (chết năm 2004) và bà Trần Thị T (chết năm 2016) có 02 người con là: Trần V và Nguyễn Thị Ngọc T.

Bà Nguyễn Thị Ngọc T bỏ nhà đi từ năm 1971, khi đi không thông báo cho chính quyền địa phương và gia đình được biết, đến nay cũng không có bất cứ liên lạc nào về. Gia đình đã nhiều lần tìm kiếm nhưng không có kết quả.

Trước khi bỏ nhà đi thì bà Nguyễn Thị Ngọc T có hộ khẩu thường trú tại 113/14B A, Phường B, Quận C, Thành phố D. Bà T sống độc thân không chồng, không con.

Nay để thuận tiện trong các giao dịch dân sự ông Trần V yêu cầu Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Ngọc T là đã chết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Quận 3 nhận định:

1/- Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Ông Trần V có yêu cầu tuyên bố một người là đã chết đối với bà Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1949 có nơi cư trú cuối cùng tại 113/14B A, Phường B, Quận C, Thành phố D.

Theo quy định tại khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì việc giải quyết yêu cầu của ông Trần V là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Quận 3 Thành phố Hồ Chí Minh.

Xét người yêu cầu có đơn đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự vắng mặt nên căn cứ vào khoản 2 Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án mở phiên họp giải quyết việc dân sự vắng mặt người yêu cầu.

2/- Về yêu cầu của các đương sự:

Ông Trần V có yêu cầu tuyên bố bà Nguyễn Thị Ngọc T là đã chết.

Căn cứ vào xác minh của Công an Phường B, Quận C, Thành phố D thì bà Nguyễn Thị Ngọc T đã bị xóa hộ khẩu tại địa chỉ 113/14B A, Phường B, Quận C, Thành phố D từ năm 1971. Mặt khác về quan hệ nhân thân và việc vắng mặt tại địa phương của bà Nguyễn Thị Ngọc T đúng như lời khai của người yêu cầu tại Tòa án.

Xét yêu cầu của ông Trần V là phù hợp với điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự nên được chấp nhận.

Xét bà Nguyễn Thị Ngọc T bị Công an xóa hộ khẩu từ năm 1971. Căn cứ khoản 1 Điều 68 và điểm d khoản 1 Điều 71 Bộ luật Dân sự xác định ngày chết của người bị tuyên bố chết là ngày 01/01/1977.

3/- Lệ phí việc dân sự là 300.000 đồng, ông Trần V phải nộp toàn bộ nhưng được trừ vào số tiền đã tạm ứng lệ phí 300.000 đồng theo biên lai số XXXXXXX ngày XX/XX/XXXX của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3. Ông Trần V đã nộp đủ lệ phí.

Bởi các lẽ nêu trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 4 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, khoản 2 Điều 367, Điều 369, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 393 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Khoản 1 Điều 68, điểm d khoản 1 Điều 71, Điều 72 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1/ - Chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự về “Tuyên bố một người là đã chết” của ông Trần V.

Tuyên bố: bà Nguyễn Thị Ngọc T (sinh năm 1949, có nơi cư trú cuối cùng tại 113/14B A, Phường B, Quận C, Thành phố D) là đã chết. Ngày chết được xác định là ngày 01/01/1977.

Khi quyết định của Tòa án tuyên bố bà Nguyễn Thị Ngọc T là đã chết có hiệu lực pháp luật thì các quan hệ về hôn nhân và gia đình và các quan hệ nhân thân khác của bà Nguyễn Thị Ngọc T được giải quyết như đối với một người đã chết.

Tài sản của bà Nguyễn Thị Ngọc T được giải quyết theo quy định của pháp luật về thừa kế.

2/ - Lệ phí việc dân sự: ông Trần V phải nộp 300.000 đồng nhưng được trừ vào số tiền đã tạm ứng lệ phí 300.000 đồng theo biên lai số XXXXXXX ngày XX/XX/XXXX của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 3. Ông Trần V đã nộp đủ lệ phí.

3/ - Quyền kháng cáo, kháng nghị: quyết định này có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

(Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 (mười) ngày kể từ ngày nhận được quyết định này).

Cỡ chữ