vanban.org

Quyết định 120/QĐST-HNGĐ — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 16/11/2022 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang Tr.

Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang Tr: Giao con chung Nguyễn Thanh B, sinh ngày 03/11/2014 cho chị Trần Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi); Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Quang Tr đóng góp cấp dưỡng nuôi … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Quyết định công nhận thuận tình ly hôn Trần Thị T - Nguyễn Quang Tr"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 120 /2022/QĐST - HNGĐHà Tĩnh, ngày 16 tháng 11 năm 2022

QUYẾT ĐỊNH

GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

(V/v yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn)

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên họp: Ông Trần Khắc Hoàng

Thư ký phiên họp: Bà Lê Thị Hạnh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên họp: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, mở phiên họp công khai giải quyết việc Hôn nhân gia đình thụ lý số 194/2022/TLST

- HNGĐ ngày 19/10/2022 về việc “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn”, Theo Quyết định mở phiên họp số 124/2022/QĐ-TA ngày 08/11/2022 gồm những người tham gia tố tụng sau:

Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân gia đình:

- Chị Trần Thị T, sinh năm 1996; HKTT: Thôn T, xã K, Thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh; Chổ ở hiện nay: Thôn H, xã K, Thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh. (Có mặt tại phiên họp)

- Anh Nguyễn Quang Tr, sinh năm 1989; địa chỉ trước khi xuất cảnh: Thôn T, xã K, Thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh. (Hiện đang lao động tự do tại Hàn Quốc - Vắng mặt tại phiên họp).

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai chị Trần Thị T trình bày như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang Tr đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 14/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện A, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện và không bị ai ép buộc. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian. Đến khoảng năm 2020 vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính cách không hòa hợp, sống thiếu sự quan tâm và chia sẽ với nhau. Đến tháng 8/2022, anh Tr quyết định đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc và cũng chưa biết đến thời gian nào mới về lại Việt Nam. Hiện tại, cả hai đều nhận thấy tình cảm không còn, không mong muốn tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân nên chị T làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn để mỗi người tự xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp hơn.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung cháu Nguyễn Thanh B, sinh ngày 03/11/2014. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, về cấp dưỡng nuôi con chung anh Tr đóng góp mức nào chị cũng đồng ý.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Quang Tr sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã gửi thông báo thụ lý vụ án và được người thân của anh nhận thay. Quá trình xác minh người thân của anh Tr cung cấp thông tin hiện nay anh đang lao động tại Hàn Quốc nhưng không có địa chỉ cụ thể nên không thể cung cấp cho tòa án. Anh Tr cũng đã biết được việc chị T làm đơn xin ly hôn và anh cũng hoàn toàn nhất trí như yêu cầu ly hôn của chị T.

Tại phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của thẩm phán, thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng các Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83, 110, 116, 117, 118, 123, 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 26/4/2003 của Hội đồng thẩm phán TAND Tối cao, Công văn số 253 ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao: Về tình cảm: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang Tr; Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang Tr: Giao con chung Nguyễn Thanh B, sinh ngày 03/11/2014 cho chị Trần Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh Tr đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T mỗi tháng 1.000.000đ, ngoài ra anh Tr có thể đóng góp hỗ trợ thêm các khoản như đóng nộp đầu năm, mua quần áo, sách vỡ cho cháu hoặc khi có anh hỗ trợ thêm. Anh Tr có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cấm, cản trở; Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc Hôn nhân gia đình đã được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang Tr, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Tại Công văn số 20157/QLXNC-P5 ngày 28/9/2022 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ công an thể hiện: Anh Nguyễn Quang Tr, sinh ngày 05/5/1989, CMTND số xxxxxxxxx, Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã K, Thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất nhập cả nh 3 lần, xuất cảnh gần đây nhất vào ngà y 16/08/2022 qua Sân bay quốc tế Nội Bài, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ quy định tại khoản 25 Điều 3, các Điều 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 29, 37, 39, 464, của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nội dung yêu cầu của chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang Tr thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Để đảm bảo giải quyết vụ việc đúng quy định pháp luật, Tòa án đã tiến hành xác minh thông tin về anh Nguyễn Quang Tr thông qua bà Trần Thị Th (mẹ đẻ anh Tr) và được bà cung cấp thông tin hiện nay anh Nguyễn Quang Tr đang lao động tại Hàn Quốc và thường xuyên liên lạc về với gia đình qua điện thoại nhưng địa chỉ cụ thể của anh Tr tại Hàn Quốc gia đình không rõ. Tòa án đã kết nối điện thoại qua cuộc gọi hình ảnh trên ứng dụng messenger với sự chứng kiến của bà Trần Thị Th và đại diện chính quyền địa phương xác nhận anh Nguyễn Quang Tr là chồng chị Trần Thị T. Trao đổi qua điện thoại, anh Tr trình bày thống nhất về thời gian, địa điểm kết hôn, cuộc sống vợ chồng, quan hệ con chung đúng như chị T đã trình bày. Vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, cả hai thiếu sự quan tâm và chia sẽ với nhau, hiện tại, anh cũng nhận thấy vợ chồng không còn tình cảm gì với nhau, nên chị T làm đơn ly hôn anh cũng nhất trí ly hôn; Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung cháu Nguyễn Thanh B, sinh ngày 03/11/2014, khi ly hôn anh cũng nhất trí giao con chung cho chị Trần Thị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, anh đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T mỗi tháng 1.000.000đ, ngoài ra anh có thể đóng góp hỗ trợ thêm các khoản như đóng nộp đầu năm, mua quần áo, sách vỡ cho cháu hoặc khi có anh hỗ trợ thêm. Về tài sản chung, nợ chung: Anh cũng thống nhất như đề nghị của chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, anh Tr trình bày thêm hiện tại anh đang lao động tự do tại Hàn Quốc do điều kiện công việc anh không thể về Việt Nam để trực tiếp giải quyết việc ly hôn anh đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn vắng mặt theo thủ tục rút gọn, anh đồng ý việc Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân ở Việt Nam là mẹ đẻ bà Trần Thị Thành; địa chỉ: Thôn T, xã K, Thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh. Bà Trần Thị Th cũng nhất trí nội dung anh Nguyễn Quang Tr đã trình bày. Xét thấy, chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang Tr đã thống nhất thỏa thuận được với nhau về quan hệ tình cảm, con chung, tài sản chung, nợ chung. Vì vậy, Tòa án căn cứ quy định tại Điều 29, 361 Bộ luật tố tụng dân sự chuyển quan hệ pháp luật từ vụ án “Ly hôn” thành “Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn” và căn cứ Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Tòa án thực hiện tống đạt văn bản tố tụng cho anh Tr thông qua người thân là mẹ đẻ bà Trần Thị Th.

Anh Nguyễn Quang Tr đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên họp giải quyết việc Hôn nhân gia đình vắng mặt anh Nguyễn Quang Tr theo thủ tục chung.

Anh Nguyễn Quang Tr hiện đang lao động tự do tại Hàn Quốc không thể về Việt Nam, chị Trần Thị T có văn bản đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Căn cứ các Điều 205, 207 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã ban hành Thông báo số 67/TB – TA ngày 28/10/2022 về việc vụ việc không hòa giải được.

Tòa án đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, Thông báo về việc mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định mở phiên họp giải quyết việc hôn nhân gia đình theo đúng quy định pháp luật.

Tòa án yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu chứng cứ và tiến hành xác minh tài liệu chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ là tuân thủ quy định tại các điều 93, 94, 95, 96, 97, 208 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang Tr là vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 14/02/2014 tại Ủy ban nhân dân xã K, Thị xã A, tỉnh Hà Tĩnh nên đây là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn , vợ chồ ng chung số ng hạ nh phúc được một thời gian thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn vì vợ chồng tính cách không hòa hợp, sống thiếu sự quan tâm, chăm sóc, chia sẽ nên tình cảm dần phai nhạt. Hiện tại, chị T và anh Tr đều thừa nhận tình cảm vợ chồng không cò n , không thể tiếp tục, duy trì cuộc sống hôn nhân được nữa, mong muốn được ly hôn để tạo lập cuộc sống mới.

Xét thấy: Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau...nhưng hôn nhân giữa chị T và anh Tr không đạt được mục đích đó, mâu thuẫn đã trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quý trọng, chăm sóc, chung thủy, giúp đỡ nhau.

Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 quy định “Vợ, chồng hoặc cả hai có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn” (khoản 1 Điều 51); “Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở đảm bảo quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn....”(Điều 55).

Như vậy, chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang Tr đã tự nguyện thỏa thuận ly hôn. Căn cứ quy định tại Điều 55 Luật Hôn nhân gia đình, công nhận sự thỏa thuận này của các đương sự.

Về quan hệ con chung: Chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang Tr có 01 con chung Nguyễn Thanh B, sinh ngày 03/11/2014. Tại nội dung đơn khởi kiện chị T trình bày khi ly hôn chị có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến tuổi trưởng thành, về cấp dưỡng nuôi con chung anh Tr đóng góp mức nào chị cũng đồng ý. Quá trình giải quyết vụ án anh Tr đồng ý giao con chung cho chị T chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Tr đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ, ngoài ra anh có thể đóng góp hỗ trợ thêm các khoản như đóng nộp đầu năm, mua quần áo, sách vỡ cho cháu hoặc khi có anh hỗ trợ thêm, chị T cũng hoàn toàn thống nhất như đề nghị của anh Tr. Do đó, cần căn cứ quy định tại các Điều 81, 82, 83, 110, 116, 117, 118, 123, 127 Luật Hôn nhân gia đình, ghi nhận sự thỏa thuận tự nguyện của vợ chồng về việc chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con chung như các đương sự đã trình bày.

Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.

Từ những phân tích trên, xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, đúng pháp luật, không vi phạm điều cấm. Mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần công nhận sự thuận tình ly hôn, nuôi con của chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang Tr.

Về lệ phí: Các đương sự phải chịu lệ phí việc Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 146, 149, 361, 367, 369, 370 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 55, 57, 81, 82, 83 110, 116, 117, 118, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 4, 6, 9, khoản 1 Điều 35, khoản 3 Điều 37 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang Tr.

2. Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận giữa chị Trần Thị T và anh Nguyễn Quang Tr: Giao con chung Nguyễn Thanh B, sinh ngày 03/11/2014 cho chị Trần Thị T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi);

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Quang Tr đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T mỗi tháng 1.000.000đ từ thời điểm ly hôn cho đến khi cháu Nguyễn Thanh B đủ tròn 18 tuổi, ngoài ra anh Tr có thể đóng góp hỗ trợ thêm các khoản như đóng nộp đầu năm, mua quần áo, sách vỡ cho cháu hoặc khi có anh hỗ trợ thêm. Anh Tr có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cấm, cản trở.

3 Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.

4. Về lệ phí giải quyết việc dân sự: Chấp nhận sự tự nguyện nộp 300.000đ lệ phí ly hôn sơ thẩm của chị Trần Thị T (đã nộp tại biên lai số 0000327 ngày 17/10/2022 tại Cục thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh).

Ghi nhận sự tự nguyện của chị Trần Thị T về nộp tiếp số tiền án phí cấp dưỡng nuôi con chung là 300.000 (Ba trăm ngàn đồng)

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc Hôn nhân và gia đình không có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp không có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định này.

Quyết định này có hiệu lực pháp luật ngay.

Cỡ chữ