vanban.org

Quyết định 12 — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Bà Trần Thị N, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn Sỏi, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng và bà Bùi Thị L, sinh năm sinh năm 1961, nơi cư trú: Thôn Tân Cả, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành…

Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau: Đến ngày 31 tháng 8 năm 2021, bà Bùi Thị L còn nợ bà Trần Thị N là 24 chỉ vàng 9999. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "kiện đòi vàng Ngát - Lan"
  • Tòa quyết gì? Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Bà Trần Thị N, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn Sỏi, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng và bà Bùi Thị L, sinh năm sinh năm 1961, nơi cư trú: Thôn Tân Cả, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành…
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án; Điều 34 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN
Số: /2021/QĐHG-HNGĐ
Thủy Nguyên, ngày 15 tháng 9 năm 2021

QUYẾT ĐỊNH

CÔNG NHẬN KẾT QUẢ HÒA GIẢI THÀNH TẠI TÒA ÁN

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Thẩm phán ra quyết định: Nguyễn Thị Mai

Căn cứ vào các điều 471, 474, 478 của Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ vào Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35 và 36 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án;

Căn cứ Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án ngày 31 tháng 8 năm 2021, về việc các bên thỏa thuận được với nhau về giải quyết toàn bộ vụ án dân sự về tranh chấp kiện đòi tài sản giữa những người yêu cầu:

Bà Trần Thị N, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn c, xã b, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Bà Bùi Thị L, sinh năm sinh năm 1961, nơi cư trú: Thôn d, xã b, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Sau khi nghiên cứu Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án cùng tài liệu kèm theo do Hòa giải viên chuyển sang Tòa án,

XÉT THẤY:

Nội dung thỏa thuận, thống nhất của các bên được ghi trong Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải tại Tòa án đã có đủ điều kiện quy định tại Điều 33 Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án.

Đã hết thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án nhận được Biên bản ghi nhận kết quả hòa giải và tài liệu kèm theo, không có bên nào ý kiến về sự thỏa thuận đó.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án giữa các bên hòa giải: Bà Trần Thị N, sinh năm 1960; nơi cư trú: Thôn Sỏi, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng và bà Bùi Thị L, sinh năm sinh năm 1961, nơi cư trú: Thôn Tân Cả, xã Quảng Thanh, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.

2. Công nhận kết quả hòa giải thành tại Tòa án của các bên cụ thể như sau:

- Đến ngày 31 tháng 8 năm 2021, bà Bùi Thị L còn nợ bà Trần Thị N là 24 chỉ vàng 9999.

- Phương án trả nợ như sau:

Ngày 30 tháng 12 năm 2021 bà Bùi Thị L có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị N 02 chỉ vàng 9999.

Ngày 30-12-2022 bà Bùi Thị L có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị N 05 chỉ vàng 9999.

Ngày 30-12-2023 bà Bùi Thị L có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị N 05 chỉ vàng 9999.

Ngày 30-12-2024 bà Bùi Thị L có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị N 05 chỉ vàng 9999.

Ngày 30-12-2025 bà Bùi Thị L có trách nhiệm trả cho bà Trần Thị N 07 chỉ vàng 9999.

3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật, không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và được thi hành theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

4. Các bên, người đại diện hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định của Tòa án có quyền đề nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định.

5. Viện Kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị xem xét lại quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cỡ chữ