vanban.org

Quyết định 12/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy Số 02 - tỉnh Tây Ninh (Địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh).

Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy Số B - Tỉnh Tây Ninh là 24 (hai mươi bốn) tháng, thời gian chấp hành được tính từ ngày 19/12/2025. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "QĐ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy Số 02 - tỉnh Tây Ninh (Địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh).
ATÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 4 – TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/QĐ-TATây Ninh, ngày 31 tháng 12 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 4 – TÂY NINH

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Ông Nguyễn Thành N.

2. Thư ký phiên họp: Ông Dương Minh Vương.

Ngày 31 tháng 12 năm 2025, tại Trụ sở Cơ sở cai nghiện ma túy Số B - tỉnh Tây Ninh tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, theo Quyết định mở phiên họp số: 13/QĐ-TA ngày 23 tháng 12 năm 2025, đối với:

Họ và tên: ông Phạm Văn T, sinh ngày 02/10/1992; Số căn cước công dân: 089092019337; Hộ khẩu thường trú: ấp L, xã C, tỉnh An Giang; Chỗ ở hiện nay: Không nơi cư trú ổn định; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: không; Giới tính: nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Thanh S và bà Lâm Phụng M;

Tiền án; Tiền sự: Không.

(Có mặt tại phiên họp)

Có sự tham gia của:

- Đại diện Cơ quan đề nghị: ông Lê Phúc L, chức vụ: Cán bộ công an xã B, tỉnh Tây Ninh.

(Theo văn bản số: 1266/ĐN-CAX ngày 30/12/2025 của Trưởng Công an xã B)

- Đại diện Viện kiểm sát: Ông Huỳnh Đỗ Phúc Lợi – Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 – Tây Ninh.

NHẬN THẤY:

Ông Phạm Văn Tý là đối tượng nghiện ma túy, không có nơi cư trú ổn định. Ngày 14/12/2025, Công an xã B, tỉnh Tây Ninh phát hiện ông T có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên đã mời về trụ sở Công an làm việc. Tại biên bản làm việc ngày 17/12/2025, ông T khai nhận, ông sử dụng ma túy từ khoảng năm 2010 cho đến nay, không đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng vì ông không còn sinh sống tại địa chỉ: ấp L, xã C, tỉnh An Giang và cũng không đăng ký tạm trú trực tiếp hoặc trực tuyến tại xã B, tỉnh Tây Ninh. Cùng ngày 17/12/2025, Công an xã B, tỉnh Tây Ninh tiến hành kiểm tra nhanh, kết quả ông T dương tính với ma túy nên lập biên bản vi phạm hành chính ngày 17/12/2025.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm ngày 17/12/2025 của Trung tâm y tế K kết luận ông Phạm Văn T nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là: Methamphetamin, A.

Trong thời gian làm thủ tục để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, ông T được đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy Số 02 - tỉnh Tây Ninh quản lý, theo quyết định số 1182/QĐ-CAX ngày 19/12/2025 của Trưởng Công an xã B, tỉnh Tây Ninh. Ông T được quản lý tại Cơ sở cai nghiện ma túy Số 02 - tỉnh Tây Ninh từ ngày 19/12/2025 cho đến nay.

Ngày 19/12/2025, Trưởng Công an xã B, tỉnh Tây Ninh có văn bản số 1173/ĐN-CAX ngày 19/12/2025 (kèm hồ sơ) về việc đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tây Ninh xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T.

Tại phiên họp,

Cơ quan đề nghị: Đại diện Công an xã B giữ nguyên nội dung tại Văn bản số 1173/ĐN-CAX ngày 19/12/2025 đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tây Ninh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T với thời gian từ 15 đến 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy Số B

- tỉnh Tây Ninh.

Ông Phạm Văn T trình bày: Ông T thừa nhận, ông sử dụng ma túy từ khoảng năm 2010 cho đến nay. Tại thời điểm ông bị Công an xã B lập biên bản vì ông có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ông không đang đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng vì ông không sinh sống tại địa chỉ: ấp L, xã C, tỉnh An Giang và cũng không đăng ký tạm trú tại xã B, tỉnh Tây Ninh, không nơi cư trú ở ổn định. Ông đồng ý cai nghiện bắt buộc như đề nghị của Công an xã B. Trong thời gian được quản lý cho đến nay, ông thấy có lỗi với gia đình, khi sống lang thang, không chăm lo cho con. Ông mong được Cơ quan đề nghị và Tòa án xem xét giảm nhẹ áp dụng biện pháp xử lý hành chính cai nghiện bắt buộc cho ông để ông sớm trở về với gia đình. Ông cam kết thực hiện tốt cai nghiện bắt buộc để từ bỏ sử dụng ma túy.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 4 - Tây Ninh phát biểu ý kiến:

Từ khi thụ lý cho đến thời điểm mở phiên họp và tại phiên họp Thẩm phán, Thư ký, Đại diện cơ quan đề nghị đã thực hiện theo đúng với các quy định của các Điều 3, 8, 9, 10, 12, 13, 17, 18, 20, 21 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 và Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2005 sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính: được thực hiện đúng quy định tại Điều 95, khoản 1 Điều 96 và khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi bổ sung năm 2025; Điều 5, Điều 32 Luật phòng chống ma túy.

Về tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính và sự cần thiết, thời gian đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Đại diện Công an xã B đề nghị Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tây Ninh xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T với thời gian từ 15 đến 24 tháng là cần thiết và phù hợp quy định của pháp luật nên đề nghị chấp nhận.

XÉT THẤY:

Về thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính: ông Phạm Văn T bị Công an xã B phát hiện lập biên bản vì có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, qua tiến hành kiểm tra xác minh vào ngày 17/12/2025, ông T không đăng ký tạm trú, lưu trú trên địa bàn xã B, tỉnh Tây Ninh. Đồng thời, kết quả xác minh ngày 19/12/2025 tại Công an xã C, tỉnh An Giang xác định ông Phạm Văn T có hộ khẩu thường trú tại ấp L, xã C, tỉnh An Giang nhưng từ ngày 01/7/2025 ông T không còn sinh sống tại địa phương và ông T cũng không thuộc đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy bị quản lý hoặc đối tượng bị quản lý sau cai nghiện. Do đó, có đủ căn cứ xác định ông Phạm Văn T là đối tượng không có nơi cư trú ổn định, ông T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại xã B, tỉnh Tây Ninh. Do đó, Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tây Ninh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 và Pháp lệnh số 08/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2005 sửa đổi bổ sung một số điều của Pháp lệnh số 03; Điều 7 Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC ngày 01/3/2025.

. Về tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T được lập đảm bảo đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 6, Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung các năm 2025; Điều 13 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Về thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Ông Phạm Văn T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị công an xã B, tỉnh Tây Ninh lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 17/12/2025. Căn cứ theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung năm 2020. Tòa án nhân dân Khu vực 4 - Tây Ninh, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông T là còn thời hiệu.

. Về đánh giá tính chất, mức độ hành vi vi phạm: Tại phiên họp, ông Phạm Văn T khai nhận, trước đây ông và gia đình của ông có đăng ký hộ khẩu và sinh sống tại: tại ấp L, xã C, tỉnh An Giang nhưng hiện ông không còn sinh sống tại đây, ông sống lang thang, ông T xác định ông cũng không đăng ký tạm trú tại xã B, tỉnh Tây Ninh. Ông đã sử dụng ma túy từ năm 2010 cho đến nay. Lời khai này của ông T là phù hợp với kết quả xác minh thông tin về cư trú của ông T ngày 17/12/2025 của công an xã C, tỉnh An Giang; biên bản xác minh ngày 17/12/2025 của Công an xã B; phù hợp với phiếu kết quả xét nghiệm ngày 19/12/2025 của Trung tâm y tế K kết luận ông Phạm Văn T nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là M1, A. Do đó, có đủ căn cứ xác định ông T là đối tượng nghiện ma túy và không có nơi cư trú ổn định.

Hành vi này của ông Phạm Văn T đã vi phạm khoản 5 Điều 5, Điều 32 Luật phòng chống ma túy; khoản 2, 16 Điều 2; Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 được sửa đổi, bổ sung năm 2020 và năm 2025, ông Phạm Văn T đã vi phạm các quy định của pháp luật quản lý Nhà nước về phòng chống ma túy, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của ông T đã xâm phạm đến quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định phải bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Xét đề nghị của đại diện cơ quan đề nghị là Công an xã B và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên họp về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T là phù hợp nên Tòa án chấp nhận. Do ông T đã sử dụng ma túy trong thời gian dài, bản thân không tự nguyện cai nghiện được nên cần thiết phải áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với ông T với mức thời gian cai nghiện bắt buộc tối đa nhằm giáo dục, giúp đỡ cho ông T có thể cai nghiện, từ bỏ sử dụng ma túy phát triển lành mạnh về thể chất, tinh thần để trở thành công dân có ích cho xã hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Phạm Văn T tại Cơ sở cai nghiện ma túy Số 02 - tỉnh Tây Ninh (Địa chỉ: Ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh).

2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy Số B - Tỉnh Tây Ninh là 24 (hai mươi bốn) tháng, thời gian chấp hành được tính từ ngày 19/12/2025.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với Quyết định.

Người bị đề nghị ông Phạm Văn T có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 05 (năm) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã B, tỉnh Tây Ninh.

Cỡ chữ