vanban.org

Quyết định 12/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lương Văn T, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1985; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành: Cơ sở cai nghiện Ma túy tỉnh Lạng Sơn. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Người b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lương Văn T - Đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lương Văn T, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1985; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.
  • Căn cứ chính? Điều 3 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHI LĂNG
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/QĐ-TAChi Lăng, ngày 25 tháng 9 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHI LĂNG, TỈNH LẠNG SƠN

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán: Bà Phan Thị Thanh Huyền.

2. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Xuân Phấn.

Ngày 25 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 12/QĐ-TA ngày 23 tháng 9 năm 2020 đối với:

Họ và tên: Lương Văn T; giới tính: Nam; sinh ngày 15/7/1985.

CMND số:......... Ngày cấp..... tháng..... năm...... Nơi cấp.......

Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 01/12.

Nguyên quán: Xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Nghề nghiệp: Làm ruộng.

Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 10/5/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; tiền sự: Không có.

Con ông Lương Văn D và bà Nông Thị M.

Lương Văn T vắng mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1. Đại diện cơ quan đề nghị Phòng L, T - X- D huyện C, tỉnh Lạng Sơn: Bà Đoàn Thu T, Trưởng phòng.

2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn: Bà Hoàng Thị Loan, Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Do Lương Văn T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, nên Công an xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã lập hồ sơ đề nghị Ủy ban nhân dân xã V đưa đối tượng Lương Văn T vào áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn. Ngày 12 tháng 5 năm 2020, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đã ban hành Quyết định số 58a/QĐ-UBND về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường, thị trấn đối với Lương Văn T với thời hạn là 03 tháng. Ngày 12 tháng 8 năm 2020 đã chấp hành xong biện pháp trên, theo giấy chứng nhận số 02/GCN-UBND ngày 12/8/2020 của Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Sau khi chấp hành xong biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại cấp xã, Lương Văn T vẫn nghiện và có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hành vi này đã bị cơ quan chức năng lập biên bản về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Điều 28 Luật phòng chống ma túy; lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị Phòng L, T - X - D, huyện C, tỉnh Lạng Sơn trình bày ý kiến: Đối tượng Lương Văn T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã nhưng không tiến bộ vẫn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy trên địa bàn xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự. Trong quá trình lập hồ sơ người bị đề nghị đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Phòng L, T, X – D, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa đối tượng Lương Văn T vào cơ sở cai nghiện với thời hạn 24 (hai mươi tư) tháng tại Cơ sở cai nghiện Ma túy tỉnh Lạng Sơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn phát biểu ý kiến: Hồ sơ, thủ tục về việc đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn T đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Trình tự thủ tục tại phiên họp được thực hiện đầy đủ và theo đúng luật định. Áp dụng theo đúng Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 9, Điều 11, Điều 12, Điều 16, Điều 17, Điều 20 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đại diện Viện kiểm sát nhất trí với quan điểm của Cơ quan đề nghị là đưa Lương Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 24 (hai mươi tư) tháng.

XÉT THẤY:

Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào sơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn T được thực hiện như sau:

Đối với các giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính: Hồ sơ đã có bản tóm tắt lý lịch của người bị đề nghị đầy đủ theo quy định; có Quyết định 58a/QĐ-UBND ngày 12 tháng 5 năm 2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã, phường, thị trấn đối với Lương Văn T phù hợp theo quy định tại Điều 98 Luật Xử lý vi phạm hành chính. Trong hồ sơ có đầy đủ tài liệu chứng minh những hành vi vi phạm pháp luật của đối tượng Lương Văn T thể hiện rõ hành vi phạm hành chính về sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp theo quy định tại Điều 95 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Hồ sơ đã có bản tường trình đầy đủ của người vi phạm Lương Văn T.

Đối với thời hiệu áp dụng biện pháp xử lý hành chính: Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì thời hiệu là 03 tháng, kể từ ngày cá nhân thực hiện lần cuối hành vi vi phạm. Tính từ ngày 27/8/2020 là ngày Lương Văn T thực hiện hành vi vi phạm lần cuối thì thời hiệu vẫn đảm bảo phù hợp theo quy định.

Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính là nam giới, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1985, không có căn cứ chứng minh bị mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hành chính. Nên đủ điều kiện bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Đối với thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là đúng theo quy định của pháp luật: Theo điểm a, c khoản 1 Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính thì đối tượng có nơi cư trú ổn định tại xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn, nên thẩm quyền lập hồ sơ đề nghị là Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã V và Công an xã V có trách nhiệm thu thập tài liệu lập hồ sơ. Ngày 09 tháng 9 năm 2020 Phòng Tư pháp huyện C có thông báo số 21/TB-PTP về việc kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn T đủ điều kiện theo quy định.

Như vậy, hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn T là đầy đủ trình tự, thủ tục, đảm bảo hợp pháp theo quy định của pháp luật.

Xét về hành vi: Hành vi vi phạm của Lương Văn T là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, tệ nạn ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khỏe con người, phá hoại hạnh phúc gia đình và cũng là nguyên nhân phát sinh những tội phạm khác, nhưng hành vi trên của Lương Văn T chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, Lương Văn T đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã nhưng không có tiến bộ. Hành vi này gây hoang mang lo lắng cho gia đình và xã hội; gây mất trật tự khu vực dân cư, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh trên địa bàn xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình lập hồ sơ Lương Văn T đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ cho người bị đề nghị theo quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Về tình tiết tăng nặng: Lương Văn T là người có nhân thân xấu ngày 10/05/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn xử phạt 02 năm tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy đến nay chưa được xóa án tích nên bị coi là “tái phạm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Xét về nhân thân: Lương Văn T không có tiền sự, nhưng có 01 tiền án. Xác định Lương Văn T là người có nhân thân xấu.

Bản thân Lương Văn T có đủ năng lực trách nhiệm hành chính, nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là có lỗi, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước (nhưng chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự), do vậy cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lương Văn T trong một thời gian nhất định để Lương Văn T lao động, học văn hóa, học nghề, sinh hoạt dưới sự quản lý của cơ sở cai nghiện bắt buộc, có như vậy mới có thể răn đe, giáo dục Lương Văn T trở thành người công dân có ích cho gia đình, cho xã hội và phòng ngừa chung tội phạm.

Tại phiên họp đại diện cơ quan đề nghị Phòng L, T, X – D, huyện C, tỉnh Lạng Sơn đề nghị đưa đối tượng Lương Văn T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 24 (hai mươi tư) tháng. Xét tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm mà Lương Văn T đã gây ra thì cần thiết phải áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nhiện bắt buộc đối với Lương Văn T với mức đề nghị của Phòng L, T, X – D, huyện C, tỉnh Lạng Sơn là phù hợp nên được chấp nhận.

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; Điều 96, Điều 103; Điều 104; Điều 105; Điều 106, Điều 107 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Căn cứ Điều 8 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; khoản 1, 2 Điều 3 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số Điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng, thi hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Căn cứ các Điều 19; Điều 22; Điều 23; Điều 24; Điều 30; Điều 31, Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Lương Văn T, sinh ngày 15 tháng 7 năm 1985; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã V, huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành: Cơ sở cai nghiện Ma túy tỉnh Lạng Sơn.

3. Quyền khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị đối với quyết định: Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.

Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định là ngày (25/9/2020).

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng L, T - X - D huyện C, tỉnh Lạng Sơn phối hợp với Công an huyện C, tỉnh Lạng Sơn.

Cỡ chữ