- Tranh chấp gì? "Quyết định cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung H.
- Căn cứ chính? Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 17 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/QĐ-TA | Châu Thành, ngày 11 tháng 3 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TÂY NINH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân.
2. Thư ký phiên họp: Bà Vũ Thị Thuỳ Trang.
Ngày 11 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số: 09/QĐ-TA ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với:
Lê Trung H, sinh ngày 07 tháng 11 năm 1988; CCCD số: 072088006928; ngày cấp: 28/06/2021; nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C; dân tộc: kinh; tôn giáo: không có; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hoá: 06/12; nguyên quán: Tây Ninh.
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh.
Tiền án: Không có.
Tiền sự: Ngày 08/7/2023, Công an xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh, ra quyết định số 20/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính Lê Trung H số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Về nhân thân:
Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt H 03 (ba) năm tù về tội “Cướp cắp tài sản”, theo bản án số 188/2010/HS-PT ngày 21-10-2010 (đã được xoá án tích).
Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt H 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 31/2019/HS-ST ngày 12-7-2019 (đã được xoá án tích).
Năm 2021 bị công an xã T xử phạt 750.000 đòng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Con ông Lê Văn H1 và bà Châu Thị H2.
Lê Trung H vắng mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: ông Nguyễn Đồng T – Phó Trưởng Công an xã Đ, Công an tỉnh T (có mặt).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành: Ông Võ Minh Mẫn
- Kiểm sát viên (có mặt).
NHẬN THẤY:
Lê Trung H là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 11/6/2023 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị công an xã Đ, huyện C phát hiện lập biên bản vi phạm hành chính ngày 14/6/2023 và xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng theo quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 20/QĐ-XPHC ngày 08/7/2023.
Ngày 19/06/2023, Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C ra quyết định số 09/QĐ-UBND áp dụng biện pháp quản lý người sử dụng trái phép chất ma tuý thời hạn là 01 năm, tính từ ngày 19/06/2023.
Ngày 21/12/2024, H tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an xã Đ lập biên bản làm việc, biên bản vi phạm hành chính vào ngày 27/12/2024 và phối hợp với Trạm y tế xã Đ, huyện C tiến hành kiểm tra xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể H kết luận: Lê Trung H dương tính với chất ma túy. Công an xã Đ, huyện C có văn bản đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với Lê Trung H.
Ngày 03/01/2025, Trung tâm y tế huyện C, tỉnh Tây Ninh ban hành Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy; kết quả xác định là Lê Trung H nghiện ma túy tổng hợp (Methamphetamine). Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C hồ sơ và cho Lê Trung H đăng ký cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng.
Ngày 03/01/2025, Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C ban hành quyết định số 22/QĐ-UBND quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với Lê Trung H, thời gian cai nghiện từ ngày 03/01/2025 đến ngày 03/01/2026.
Ngày 05/02/2025, Công an xã Đ tiến hành kiểm tra định kỳ về việc chấp hành quyết định cai nghiện tự nguyện tại gia đình, cộng đồng của Lê Trung H và tiến hành test nhanh ma túy đối với Lê Trung H; Trạm Y tế xã Đ trả Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể: kết quả H dương tính với chất ma túy.
H thừa nhận ngày 21/01/2025 có sử dụng ma túy tại nhà của L thuộc khu vực thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Công an xã Đ đã lập biên bản làm việc và biên bản vi phạm hành chính, biên bản vi phạm về cai nghiện tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma tuý và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế vào ngày 05/02/2024.
Ngày 07/02/2025, Phòng Lao động - Thương binh và xã hội huyện C có văn bản đề nghị số 01/ĐN-CNBB về việc đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung H.
Tại phiên họp, đại diện cơ quan đề nghị Công an xã Đ tham gia phiên họp: Giữ nguyên đề nghị của Phòng Lao động, Thương binh và xã hội huyện C về việc áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung H. Cơ sở cai nghiện bắt buộc mà H phải thi hành là tại Cơ sở Cai nghiện ma túy bắt buộc tỉnh Tây Ninh; địa chỉ: xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.
Người bị đề nghị Lê Trung H vắng mặt tại phiên họp nên không có lời trình bày.
Ý kiến của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên họp:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký tiến hành phiên họp đã thực hiện đúng quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và quy định của các văn bản pháp luật liên quan. Người bị đề nghị, cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 và các quy định của pháp luật liên quan.
Về nội dung: Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đảm bảo theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Nghị quyết 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Lê Trung H, sinh năm 1988, có nơi cư trú ổn định, là người nghiện ma túy được Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C quyết định cho cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng, trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện bị phát hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy Lê Trung H thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 2 Điều 32 Luật phòng chống ma túy.
Về thời hạn áp dụng: Lê Trung H có 01 tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên phải chịu tình tiết tăng nặng vi phạm hành chính nhiều lần, tái phạm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Trong quá trình giải quyết H tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Về nhân thân Lê Trung H đã từng bị xét xử 02 lần về tội “Trộm cắp tài sản” và “Cướp tài sản”. Năm 2021 bị công an xã T xử phạt 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”. Vì vậy áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung H thời hạn từ 18 đến 24 tháng là cần thiết và đúng quy định.
XÉT THẤY:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ việc và đã được thẩm tra tại phiên họp, căn cứ vào ý kiến đề xuất của những người tham gia phiên họp, nhận thấy:
Về hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị được lập đúng theo quy định tại Điều 41, 43 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Điều 103 của Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Về thời hiệu áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy lần cuối của Hậu bị lập biên bản vi phạm hành chính vào ngày 05/02/2025, còn thời hiệu để áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo quy định tại Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 9 Nghị quyết 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Về về biện pháp xử lý vi phạm hành chính:
Trong hồ sơ thể hiện Lê Trung H là người nghiện ma túy trên 18 tuổi, có nơi cư trú ổn định tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Đã được Ủy ban nhân dân xã Đ ban hành quyết định số 22/QĐ-UBND ngày 03/01/2025 quyết định cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng đối với Lê Trung H. Trong thời gian cai nghiện ma túy tự nguyện tại gia đình, cộng đồng H tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Như vậy H thuộc đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 32 Luật Phòng, chống ma túy.
Xét đề nghị của Phòng L, Công an xã Đ về việc đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung H là có căn cứ nên chấp nhận.
Về thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện: H là người đã có 01 tiền sự là ngày 08/7/2023, Công an xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh, ra quyết định số 20/QĐ-XPHC xử phạt vi phạm hành chính Lê Trung H số tiền 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính nhưng H vẫn tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy nên phải chịu tình tiết tăng nặng vi phạm hành chính nhiều lần, tái phạm theo quy định tại điểm b Khoản 1 Điều 10 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Trong quá trình giải quyết vụ việc H đã tự nguyện khai báo, thành thật hối lỗi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính. Về nhân thân H đã bị Toà án nhân dân tỉnh Tây Ninh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội “Cướp cắp tài sản”, theo bản án số 188/2010/HS-PT ngày 21-10-2010 (đã được xoá án tích). Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo bản án số 31/2019/HS-ST ngày 12-7-2019 (đã được xoá án tích). Năm 2021 bị công an xã T xử phạt 750.000 đòng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý.
Sau khi chấp hành án xong trở về địa phương H tiếp tục sử dụng trái phép chất ma túy. Để đảm bảo trật tự an toàn xã hội, tránh phát sinh các tệ nạn khác tại địa phương, đồng thời tạo điều kiện cho H sửa chữa bản thân, đoạn tuyệt với ma túy, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội nên áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung H trong thời hạn 24 tháng là cần thiết và đúng quy định.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên họp là có căn cứ nên chấp nhận.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 9; Điểm b khoản 1 Điều 10; Điều 95, 96; khoản 2 Điều 105 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Căn cứ vào các Điều 3, 17, 20, 21, 30, 31, 32 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15, ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Căn cứ Điều 32 của Luật phòng, chống ma túy;
Căn cứ vào các Điều 41, 43 Nghị định 116/2021/NĐ-CP, ngày 21/12/2021 quy định chi tiết một số điều của luật phòng, chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung H.
2. Thời gian chấp hành tại Cơ sở cai nghiện bắt buộc là 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính Lê Trung H có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định (ngày 11/3/2025).
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an xã Đ thuộc Công an tỉnh T; Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tỉnh Tây Ninh có trách nhiệm thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Châu Thành; - Công an xã Đ; - Cơ sở cai nghiện ma túy bắt buộc tỉnh Tây Ninh; - UBND xã Đ; - Lê Trung Hậu; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN (đã ký) Nguyễn Thị Kim Ngân |