- Tranh chấp gì? "La Văn Tĩnh"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Họ và tên: La Văn T, sinh năm 1995; nơi cư trú: xóm Pháng 1, xã Phú Đ, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên.
- Căn cứ chính? Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 Trình tự, thủ tục xem xét, quy…; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 12/2025/QĐ-TA | Phú Lương, ngày 04 tháng 02 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
- Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Nguyễn Trường Giang;
- Thư ký phiên họp: Bà Hoàng Thị Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thụ lý số 07/2025/XLHC ngày 15/01/2025 theo quyết định mở phiên họp số: 07/2025/QĐ-TA ngày 15/01/2025 đối với người bị đề nghị:
Họ và tên: La Văn T, sinh ngày: 20/5/1995; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: lao động tự do; nơi cư trú: xóm P 1, xã Phú Đ, huyện Phú L, tỉnh Thái N;
Tiền án, tiền sự: Không;
Con ông La Văn Tơ, sinh năm 1974 và bà Lô Thị Vương, sinh năm 1976; có vợ là Nịnh Thị Cường, sinh năm 1998 (đã ly hôn).
(anh T vắng mặt tại phiên họp).
Có sự tham gia của:
- Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đỗ Thanh Bình, Chức vụ: Phó Trưởng phòng, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt);
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú L: Ông Triệu Đức Hoàng - Kiểm sát viên (Có mặt).
NHẬN THẤY:
Tại bản tường trình về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy ngày 05/01/2025, anh T thừa nhận: Bản thân nghiện ma túy từ năm 2018, loại ma túy sử dụng là heroine, hình thức thường sử dụng là “chích”, lần cuối cùng T sử dụng ma túy là ngày 02/01/2025.
Tại Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy đối với anh T của Trung tâm Y tế huyện Phú L ngày 26/12/2024. Kết quả: Anh La Văn T nghiện ma túy, loại heroine.
Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, La Văn T đã được thông báo, giải thích, tư vấn về việc đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định tại Điều 28 Nghị định 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. La Văn T nhất trí với kết quả xác định tình trạng nghiện của bản thân; tuy nhiên, hết thời hạn 5 ngày làm việc, T không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Ngày 05/01/2025, tại trụ sở UBND xã Phú Đ, huyện Phú L, UBND xã Phú Đ đã lập biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế. Anh T đã có hành vi vi phạm: “đã hết thời hạn nhưng không thực hiện đăng ký cai nghiện tự nguyện” theo quy định tại khoản 1 Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021 và điểm a khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy, ý kiến của anh T thừa nhận là “đúng lỗi”.
Ngày 07/01/2025, UBND xã Phú Đ ra Thông báo số 01/TB - CNBB về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh La Văn T.
Ngày 10/01/2025, UBND xã Phú Đ đã ra văn bản đề nghị số 14/ĐN-CNBB về việc xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh La Văn T.
Tại văn bản đề nghị số 37/ĐN- CNBB, ngày 14/01/2025 của Phòng Lao động
- Thương binh và Xã hội huyện Phú L đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh La Văn T.
Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản Thông báo thụ lý hồ sơ, Quyết định mở phiên họp… theo quy định; tuy nhiên, La Văn T vắng mặt tại phiên họp không có lý do. Do đó, Toà án tiến hành xét vắng mặt đối với người bị đề nghị.
Tại phiên họp: Đại diện phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phú L vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị Tòa án xem xét áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên đối với anh La Văn T với thời gian từ 15 đến 18 tháng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú L phát biểu quan điểm:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ việc từ khi thụ lý đến thời điểm mở phiên họp thấy rằng Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định tại Điều 3, Điều 8, Điều 9 và các Điều 10, 11, 12, 13, 17, 21 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh La Văn T là đúng đối tượng quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 33 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Hồ sơ có đầy đủ tài liệu theo quy định tại Điều 103 Luật xử lý vi phạm hành chính. Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của La Văn T làm mất trật tự trị an tại địa phương, trái quy định của pháp luật, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của nhà nước đối với các chất gây nghiện nên cần áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhằm cải tạo, giáo dục để trở thành người có ích cho xã hội. La Văn T thực hiện hành vi vi phạm pháp luật với lỗi cố ý. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: La Văn T được hưởng tình tiết giảm nhẹ là người vi phạm thành khẩn khai báo quy định tại Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính và không phải chịu tình tiết tăng nặng nào. Từ các phân tích trên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú L đề nghị xét áp dụng đưa La Văn T vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 15 đến 18 tháng.
XÉT THẤY:
Qua xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh La Văn T, thấy rằng:
- Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh La Văn T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
- Về thời hiệu: Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phú L đối với anh La Văn T vẫn trong thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020).
- Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; khoản 1 Điều 41 Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật Xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai. Bản thân La Văn T đã đọc hồ sơ không có ý kiến khiếu nại gì về trình tự thủ tục, nhất trí việc đi cai nghiện bắt buộc.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ và trình bày của cơ quan đề nghị và của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú L, Tòa án thấy rằng:
La Văn T là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Trong các bản tự khai, biên bản lấy lời khai trong hồ sơ La Văn T đều thừa nhận bản thân có sử dụng trái phép chất ma túy đã nhiều năm. Tại Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy đối với La Văn T ngày 26/12/2024 của Trung tâm y tế huyện Phú L là cơ quan có thẩm quyền xác định tình trạng nghiện ma túy đã xác định: La Văn T có nghiện ma túy, loại ma tuý sử dụng là heroine.
Bản thân T cũng đã được thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện, và tư vấn về việc đăng ký cai nghiện ma túy nhưng T không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Biên bản vi phạm do không đăng ký cai nghiện ma tuý tự nguyện được lập theo đúng quy định tại Điều 28 và Điều 33 của Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy thấy rằng: La Văn T là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên không đăng ký cai nghiện tự nguyện do vậy đủ điều kiện áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính và Luật phòng chống ma túy. Kết quả xác định tình trạng nghiện phù hợp với các bản tường trình, biên bản làm việc ghi lời khai của T, phù hợp với kết quả kiểm tra chất ma tuý trong nước tiểu của T ngày 05/01/2025. Bản thân T có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hành chính, hiểu rõ tác của ma túy, nhận thức được hành vi sử dụng chất ma túy là trái pháp luật, Theo Điều 32 Luật phòng, chống ma túy năm 2021 quy định:
“Điều 32. Đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Không đăng ký, không thực hiện hoặc tự ý chấm dứt cai nghiện ma túy tự nguyện”.
Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy thấy rằng, Phòng Lao động, thương binh và xã hội huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc đối với La Văn T là có căn cứ.
Xét về nhân thân, mức độ nhận thức của người bị đề nghị: La Văn T là người trưởng thành, T không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, không có ý thức cai nghiện ma túy, mắc nghiện ma tuý, tại địa phương không có nghề nghiệp ổn định. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của người bị đề nghị áp dụng: La Văn T được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật Xử lý vi phạm hành chính là tự nguyện khai báo, ý thức chấp hành trong thời gian bị quản lý để làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. T không phải chịu tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Xét đề nghị của đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện và đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện về việc áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với anh La Văn T với thời gian từ 15 đến 18 tháng là phù hợp nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm d khoản 2 Điều 6; khoản 2 Điều 9; Điều 95; khoản 1 Điều 96; 103; khoản 2 Điều 104; khoản 2 Điều 105; Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính (được sửa đổi, bổ sung năm 2020); khoản 1 Điều 3, Điều 20, 23, 24; 30 và Điều 31 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13/12/2022 quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân; Luật phòng, chống ma túy năm 2021; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của pháp luật về xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân,
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với: Họ và tên: La Văn T, sinh năm 1995; nơi cư trú: xóm Pháng 1, xã Phú Đ, huyện Phú L, tỉnh Thái Nguyên.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mười tám tháng) tháng, tính từ ngày người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đi chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc.
3. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án. Anh La Văn T vắng mặt tại phiên họp, có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án.
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị Quyết định thực hiện theo quy định tại Điều 33 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH13 ngày 13 tháng 12 năm 2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về: Trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định này: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phú L phối hợp với Công an huyện Phú L đưa người phải chấp hành Quyết định vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc; Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc./.
| Nơi nhận: - - Phòng LĐ-TBXH huyện Phú L; - - VKSND huyện Phú L; - - Công an huyện Phú L; - - UBND xã Phú Đ; - - Người bị đề nghị; - - Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh Thái Nguyên; - - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Nguyễn Trường Giang |